Kinh tế Tài chính Việt Nam năm 2021 và triển vọng

Kinh tế Tài chính Việt Nam năm 2021 và triển vọng 16/03/2023 14:50:00 1116

Cỡ chữ:A- A+
Tương phản:Giảm Tăng

Kinh tế Tài chính Việt Nam năm 2021 và triển vọng

16/03/2023 14:50:00

- Đơn vị chủ trì: Nhóm nghiên cứu Viện Chiến lược và Chính sách tài chính

- Chủ nhiệm nhiệm vụ: TS. Ngô Xuân Thanh

- Năm giao nhiệm vụ: 2021/Mã số: 2021-11-Đ2

 

1. Tính cấp thiết của vấn đề nghiên cứu

Năm 2021, đại dịch Covid-19 diễn biến phức tạp trên toàn cầu với những biến thể mới, cản trở đà phục hồi của kinh tế thế giới. Kinh tế thế giới phục hồi nhưng không đồng đều, chưa bền vững; lạm phát tăng nhanh; thị trường tài chính, tiền tệ biến động mạnh, tiềm ẩn nhiều rủi ro. Trong nước, thiên tai, dịch bệnh tác động không nhỏ tới các hoạt động của nền kinh tế và cuộc sống của người dân; tỷ lệ thất nghiệp, thiếu việc làm cao. Đợt bùng phát đại dịch Covid-19 lần thứ tư từ giữa quý II/2021 đã tác động nghiêm trọng đến mọi mặt đời sống kinh tế - xã hội, hoạt động sản xuất - kinh doanh của doanh nghiệp và người dân khi dịch lan rộng ra hầu hết các tỉnh, thành phố, đặc biệt tại các tỉnh, thành phố lớn như thành phố Hồ Chí Minh, Hà Nội, Bắc Giang, Bắc Ninh, Bình Dương, Đồng Nai…, nơi tập trung đông dân cư, khu công nghiệp, khu chế xuất và các doanh nghiệp lớn trong chuỗi giá trị toàn cầu, đóng góp nhiều cho phát triển kinh tế và thu ngân sách. Trước bối cảnh đó, Nhà nước và toàn hệ thống chính trị Việt Nam đã vào cuộc một cách đồng bộ, quyết liệt trong phòng và chống dịch; tích cực thực hiện nhiều cơ chế, chính sách hỗ trợ, phục hồi sản xuất - kinh doanh và thúc đẩy thị trường, từng bước tạo niềm tin cho các doanh nghiệp, góp phần đưa nền kinh tế sớm vượt qua khó khăn, không lỡ nhịp với tiến trình phục hồi kinh tế toàn cầu. Đáng chú ý là, Việt Nam đã ứng phó, kiềm chế, kiểm soát được dịch bệnh, từng bước chuyển sang trạng thái "thích ứng an toàn, linh hoạt, kiểm soát hiệu quả dịch Covid-19. Nhờ đó, tăng trưởng kinh tế Việt Nam quý IV/2021 đã có khởi sắc, GDP tăng 5,22%, cao hơn tốc độ tăng 4,61% của cùng kỳ năm 2020. Đây là sự đảo chiều ấn tượng so với mức sụt giảm của quý III/2021, đưa GDP cả năm 2021 tăng 2,58%.

Trong khi đó, năm 2021 có ý nghĩa rất quan trọng, là năm mở đầu Kế hoạch 5 năm 2021 - 2025, Chiến lược 10 năm 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2045. Việc đánh giá đúng thực trạng tình hình kinh tế - xã hội đất nước năm 2021 và dự báo cả năm 2022 sẽ là cơ sở quan trọng để tiếp tục cập nhật, đánh giá khách quan, toàn diện và tạo sự thống nhất cao trong toàn Đảng, toàn dân về kết quả thực hiện các mục tiêu, nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội do Đại hội XII của Đảng và các nghị quyết Trung ương đã đề ra; làm cơ sở cho việc xây dựng và triển khai thực hiện thắng lợi Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2022; tạo đà và góp phần quan trọng bước đầu cho việc hoàn thành thắng lợi mục tiêu, nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội 05 năm 2021 - 2025 và Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 10 năm 2021 - 2030.

Do vậy, việc thực hiện Đề tài nghiên cứu “Kinh tế - tài chính Việt Nam năm 2021 và dự báo năm 2022” có ý nghĩa thực tiễn, qua đó cung cấp những thông tin khái quát về bức tranh kinh tế - tài chính thế giới trong năm 2021 với điểm nhấn là những tác động của đại dịch Covid-19 tới nguồn cung và dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài trên thế giới, cũng như sự điều chỉnh chính sách tài khóa, tiền tệ của các nước; phân tích tình hình kinh tế - tài chính Việt Nam trong bối cảnh đại dịch thông qua các khía cạnh kinh tế vĩ mô, tài chính doanh nghiệp, thị trường tài chính, chính sách tiền tệ và chính sách tài khóa. Đồng thời, kết hợp với dự báo triển vọng và thách thức đối với kinh tế - tài chính thế giới và Việt Nam giai đoạn 2022 - 2025, từ đó đề xuất các giải pháp nhằm hỗ trợ phục hồi và phát triển kinh tế sau đại dịch.

2. Mục tiêu nghiên cứu

Nghiên cứu, đánh giá tình hình kinh tế - tài chính Việt Nam trong năm 2021 và dự báo, triển vọng và khuyến nghị chính sách cho năm 2022.

3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu: Kinh tế - tài chính thế giới và Việt Nam.

Phạm vi nghiên cứu: Đề tài nghiên cứu về tình hình kinh tế - tài chính thế giới. Đối với tình hình kinh tế - tài chính của Việt Nam, đề tài sẽ tập trung phân tích những vấn đề nổi bật trên các khía cạnh kinh tế vĩ mô, tài chính công, thị trường tài chính, tài chính doanh nghiệp, trong năm 2021 và dự báo cho năm 2022.

4. Kết quả nghiên cứu

(1) Đề tài đã đưa ra bức tranh toàn cảnh của kinh tế - tài chính thế giới năm 2021 thông qua một số chỉ tiêu kinh tế lớn như: Tăng trưởng kinh tế; lạm phát; giá hàng hóa và giá dầu thế giới  ; tỷ giá; thị trường chứng khoán, thương mại toàn cầu. Bên cạnh đó, chính sách tài khóa, chính sách tiền tệ và các xu hướng điều chỉnh chính sách của các nước trong năm 2021 cũng được khái quát đầy đủ, bám sát diễn biến của các chính sách; từ đó chỉ ra một số vấn đề và kiến nghị trong thời gian tới. Đặc biệt, một số vấn đề kinh tế - tài chính quốc tế nổi bật trong năm 2021 đã được phân tích, tập trung vào tình hình đứt gãy nguồn cung và tác động đến kinh tế thế giới; tác động của xu hướng dịch chuyển dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài trong bối cảnh mới đến tài chính - ngân sách của Việt Nam; xu hướng dịch chuyển dòng vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài ra khỏi các nước mới nổi, đang phát triển và một số vấn đề đặt ra với Việt Nam.

(2) Đề tài đã khái quát được tình hình kinh tế Việt Nam năm 2021 trong bối cảnh chịu ảnh hưởng mạnh bởi đại dịch Covid-19. Tuy nhiên, với những nỗ lực trong kiểm soát dịch bệnh, thực hiện các giải pháp phục hồi phát triển sản xuất - kinh doanh và hỗ trợ người dân, doanh nghiệp, Việt Nam đã đạt được những kết quả khả quan về phục hồi kinh tế. Đề tài tập trung phân tích một số kết quả đạt được của nền kinh tế theo 04 lĩnh vực: (i) Kinh tế vĩ mô: Phát triển kinh tế số - Đòn bẩy cho sự phục hồi bền vững trong bối cảnh đại dịch Covid-19; phối hợp chính sách tài khóa và chính sách tiền tệ trong việc thực hiện mục tiêu kép; (ii) Tài chính công: Chính sách tài khóa hỗ trợ doanh nghiệp, người dân và phục hồi kinh tế; huy động các nguồn lực vào ngân sách nhà nước thực hiện các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội trước tác động của đại dịch Covid-19; giải ngân vốn đầu tư công; cơ cấu lại chi tiêu công hướng tới phát triển bền vững và phòng, chống dịch; chính sách tín dụng nhà nước thực hiện mục tiêu an sinh xã hội trong bối cảnh đại dịch Covid-19; nhận diện các rủi ro tài khóa trong bối cảnh đại dịch Covid-19; (iii) Thị trường tài chính: Nhận diện rủi ro của thị trường cổ phiếu Việt Nam; trái phiếu doanh nghiệp bất động sản tiềm ẩn nhiều rủi ro; (iv) Tài chính doanh nghiệp: Chính sách tài chính thúc đẩy doanh nghiệp chuyển đổi số; đánh giá hiệu quả chính sách hỗ trợ doanh nghiệp ứng phó với dịch Covid-19; rào cản đối với khu vực doanh nghiệp phục hồi sau đại dịch Covid-19  .

(3) Mặc dù đạt được nhiều kết quả tích cực, tuy nhiên nền kinh tế Việt Nam trong quá trình phục hồi và phát triển vẫn phải đối diện với nhiều khó khăn, thách thức đến từ các yếu tố trong nước và quốc tế. Đề tài đã nhận diện, đi sâu phân tích các yếu tố đến từ bên ngoài như lạm phát tăng cao, chuỗi sản xuất, cung ứng toàn cầu tiếp tục bị đứt gãy, nguy cơ xung đột thương mại, chính trị tại giữa các quốc gia và khu vực gia tăng... Các yếu tố tới từ nội tại nền kinh tế như: Rủi ro lạm phát; áp lực tăng lãi suất; rủi ro trong thực hiện mục tiêu xuất - nhập khẩu, đại dịch Covid-19 diễn biến phức tạp và khả năng xuất hiện các biến chủng mới đe dọa sự phục hồi của kinh tế thế giới và Việt Nam; áp lực bội chi và nợ công từ việc triển khai các gói hỗ trợ tài khóa để phục hồi kinh tế; việc áp dụng các công nghệ tài chính mới đang đặt ra nhiều thách thức; sự thiếu hụt về dòng tiền và nguồn tài chính đối với khu vực doanh nghiệp; nhu cầu của thị trường suy giảm ảnh hưởng đến doanh thu, lợi nhuận của doanh nghiệp; các khó khăn liên quan đến người lao động ảnh hưởng đến năng suất lao động và tình hình tài chính của doanh nghiệp...

(4) Đề tài đã đưa ra bối cảnh kinh tế thế giới năm 2022, từ đó dự báo tác động đến kinh tế Việt Nam. Đề tài đề xuất một số khuyến nghị chính sách cho Việt Nam trên 04 lĩnh lực (kinh tế vĩ mô, tài chính công, thị trường tài chính, tài chính doanh nghiệp) giúp nền kinh tế ứng phó với các thách thức, nhằm lấy lại đà tăng trưởng và duy trì ổn định kinh tế. Cụ thể:

(i) Để ứng phó với biến động kinh tế tài chính thế giới và xu hướng điều chỉnh chính sách của các nước lớn, Việt Nam cần chủ động theo dõi sát tình hình trong nước và thế giới để tham mưu kịp thời cho Chính phủ ứng phó linh hoạt với các biến động vĩ mô, cũng như các biến động trong lĩnh vực tài chính nhằm bảo đảm mục tiêu ổn định vĩ mô và kiểm soát lạm phát. Những vướng mắc về thể chế tài chính cần được để huy động mọi nguồn lực phục vụ phát triển đất nước. Cùng với đó, cần đẩy mạnh cơ cấu lại và nâng cao hiệu quả DNNN; kế hoạch CPH, thoái vốn nhà nước tại doanh nghiệp và sắp xếp lại, nâng cao hiệu quả hoạt động của đơn vị sự nghiệp công lập, qua đó góp phần huy động nguồn lực và nâng cao hiệu quả chi ngân sách nhà nước. Ngoài ra, cần tiếp tục phát huy vai trò kênh huy động vốn trung, dài hạn cho nền kinh tế. Vốn đầu tư công cũng cần đẩy mạnh giải ngân, tạo động lực cho phục hồi và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế.

(ii) Chính sách tài khóa cần tiếp tục được thực hiện linh hoạt để hỗ trợ doanh nghiệp, người dân và phục hồi kinh tế; phối hợp chặt chẽ với chính sách tiền tệ và các chính sách vĩ mô khác nhằm kiểm soát rủi ro lạm phát trong năm 2022. Công tác quản lý, chống thất thu, chuyển giá, gian lận thương mại, trốn lậu thuế, nhất là đối với các hình thức kinh doanh qua mạng, thương mại điện tử, quảng cáo trên mạng... cần được tăng cường. Đồng thời, đẩy mạnh thanh tra, kiểm tra thuế; quản lý chặt chẽ hoàn thuế; quyết liệt xử lý, thu hồi nợ thuế, giảm tỷ lệ nợ đọng thuế; phấn đấu tăng thu ngân sách nhà nước so dự toán. Chủ động phương án ứng phó với rủi ro và các yếu tố ảnh hưởng khác, đảm bảo cân đối ngân sách trung ương và ngân sách các cấp địa phương.

(iii) Các giải pháp phát triển thị trường tài chính trong giai đoạn tới cần ưu tiên theo hướng nâng cao ”sức khỏe” tài chính của các chủ thể trên thị trường, tăng cường các biện pháp quản lý, giám sát phòng ngừa rủi ro, duy trì các động lực tăng trưởng cho thị trường chứng khoán. Về dài hạn, việc tận dụng các xu hướng công nghệ để hướng tới phát triển thị trường tài chính hiện đại, tăng trưởng xanh, bền vững sẽ góp phần tăng năng lực cạnh tranh và thu hút dòng vốn trên thị trường quốc tế. Cần tiếp tục thực hiện chặt chẽ công tác giám sát tuân thủ các quy định pháp lý của các công ty quản lý quỹ, kiểm soát vấn đề quản lý tách bạch tài sản của nhà đầu tư ủy thác, có biện pháp xử lý phù hợp đối với các công ty quản lý quỹ không đáp ứng quy định về vốn, trụ sở, nhân sự, kiểm soát nội bộ, quản trị rủi ro, không tuân thủ các quy định trong hoạt động nghiệp. Tăng cường giám sát dựa trên rủi ro thông qua kiểm tra chỉ tiêu an toàn tài chính của các công ty quản lý quỹ. Chủ động cải thiện cơ sở hạ tầng tài chính và tăng cường hội nhập quốc tế để nắm bắt cơ hội do chuyển đổi số, chuyển đổi xanh đem lại. Chủ động hội nhập quốc tế để hài hòa hóa khung pháp lý hướng tới các chuẩn mực chung về lĩnh vực chứng khoán của khu vực.

(iv) Chính phủ cần tiếp tục thực hiện có hiệu quả Chương trình phục hồi và phát triển kinh tế - xã hội của Chính phủ, trong đó đặc biệt chú ý việc kịp thời hiện thực hóa các hỗ trợ cho doanh nghiệp. Tiếp tục đơn giản hóa các thủ tục hành chính, cắt giảm các điều kiện kinh doanh phức tạp, tạo thuận lợi cho các doanh nghiệp sản xuất - kinh doanh, thúc đẩy xuất khẩu, tăng khả năng cạnh tranh. Các thủ tục hành chính cần được đẩy mạnh xử lý trên nền tảng số hóa, tiếp tục hỗ trợ doanh nghiệp trong khả năng tiếp cận các nguồn vốn. Bên cạnh đó, Chính phủ cần tiếp tục cải thiện môi trường kinh doanh, tạo sự bình đẳng, thuận lợi cho doanh nghiệp...

5. Thông tin nghiệm thu và lưu trữ

- Nghiệm thu: Đề tài đã được Hội đồng Tư vấn đánh giá, nghiệm thu thông qua (Quyết định số 45/QĐ-CLTC ngày 14/6/2022 của Viện Chiến lược và Chính sách tài chính về việc thành lập Hội đồng Tư vấn đánh giá, nghiệm thu nhiệm vụ KHCN cấp Cơ sở năm 2021).

- Lưu trữ: Đề tài được đóng quyển, lưu trữ tại Thư viện Viện Chiến lược và Chính sách tài chính./.

 

Bình chọn

Điểm bình chọn
0 / 5
Tổng 0 lượt bình chọn
5
0%
4
0%
3
0%
2
0%
1
0%