Huy động và sử dụng nguồn lực tài chính cho phát triển khoa học và công nghệ tại Việt Nam

Huy động và sử dụng nguồn lực tài chính cho phát triển khoa học và công nghệ tại Việt Nam 08/04/2022 11:01:00 101

Cỡ chữ:A- A+
Tương phản:Giảm Tăng

Huy động và sử dụng nguồn lực tài chính cho phát triển khoa học và công nghệ tại Việt Nam

08/04/2022 11:01:00

 

- Đơn vị chủ trì: Viện Chiến lược và Chính sách tài chính

- Chủ nhiệm nhiệm vụ: TS. Lê Thị Thùy Vân

- Năm giao nhiệm vụ: 2019/Mã số: BTC/ĐT/2019-58

 

1. Tính cấp thiết của vấn đề nghiên cứu

Trong những năm qua, Đảng và Nhà nước luôn định hướng khoa học và công nghệ (KH&CN) là yếu tố quan trọng nhất cần được ưu tiên đầu tư để tạo động lực phát triển kinh tế - xã hội trong dài hạn. Nhiều chủ trương lớn của Đảng, Nhà nước đã ra đời định hướng cho sự phát triển của KH&CN (Nghị quyết số 20-NQ/TW ngày 01/11/2012 của Hội nghị lần thứ sáu Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI về phát triển KH&CN phục vụ sự nghiệp CNH, HĐH trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng XHCN và hội nhập quốc tế; Chiến lược phát triển KH&CN giai đoạn 2011 - 2020 (Quyết định số 418/QĐ-TTg ngày 11/4/2012 của Thủ tướng Chính phủ); Nghị quyết số 23-NQ/TW ngày 22/3/2018 của Bộ Chính trị về Định hướng xây dựng chính sách phát triển công nghiệp quốc gia đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045; Quyết định số 1849/QĐ-BTC của Bộ trưởng Bộ Tài chính kèm theo Chương trình hành động của ngành Tài chính thực hiện Nghị quyết số 20-NQ/TW).

Nguồn lực tài chính đầu tư cho KH&CN ngày càng tăng kết hợp từ nguồn NSNN và các nguồn ngoài ngân sách. Mặc dù nhu cầu chi cho phát triển KH&CN rất lớn, nguồn lực đầu tư cho KH&CN vẫn phụ thuộc nhiều vào NSNN trong khi NSNN cùng với huy động các nguồn lực xã hội cũng mới chỉ đáp ứng được một phần nhất định. Ngoài ra, thực tế triển khai vẫn cho thấy một số vấn đề đặt ra liên quan đến việc huy động và phân bổ nguồn lực tài chính cho KH&CN như: (i) Tỷ lệ chi cho phát triển KH&CN còn thấp chỉ khoảng 0,5% GDP, tương đương 1 USD/người/năm, trong khi các nước phát triển là 1.000 USD/người/năm; (ii) Cơ cấu chi cho phát triển KH&CN chưa hợp lý, tỷ lệ chi thường xuyên còn cao; (iii) Còn thiếu cơ chế hiệu quả để thu hút và sử dụng hiệu quả nguồn lực tài chính cho phát triển KHCN từ phía các doanh nghiệp, nhà đầu tư nước ngoài hay sử dụng hiệu quả các quỹ hiện có; (iv) Còn nhiều bất cập trong huy động và sử dụng các quỹ ngoài NSNN (Quỹ phát triển KH&CN quốc gia, Quỹ Phát triển KHCN quốc gia, Quỹ KHCN tại doanh nghiệp). Tất cả những vấn đề trên đều ảnh hưởng đến việc thực hiện mục tiêu phát triển KH&CN giai đoạn 2011 - 2020 và giai đoạn 2021 - 2030. Trong bối cảnh đó, việc thực hiện đề tài “Huy động và sử dụng các nguồn lực tài chính cho phát triển KH&CN tại Việt Nam” nhằm đánh giá thực trạng và đề xuất các giải pháp cho giai đoạn 2021 - 2030 là cần thiết, có ý nghĩa khoa học và thực tiễn.

2. Mục tiêu nghiên cứu

Đề tài đánh giá thực trạng huy động và sử dụng nguồn lực tài chính cho phát triển KH&CN, nhận diện những hạn chế còn tồn tại, từ đó đề xuất những giải pháp huy động và sử dụng các nguồn lực tài chính cho phát triển KH&CN tại Việt Nam.

3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu: nguồn lực tài chính cho phát triển KH&CN.

Phạm vi nghiên cứu: đề tài tập trung xem xét việc huy động và sử dụng nguồn lực NSNN và nguồn lực ngoài NSNN cho phát triển KH&CN ở Việt Nam.

4. Kết quả nghiên cứu

(1) Đề tài đã làm rõ một số vấn đề cơ bản về KH&CN và việc huy động và sử dụng nguồn lực tài chính cho phát triển KH&CN. Theo đó, hoạt động KH&CN là hoạt động nghiên cứu khoa học, nghiên cứu và triển khai thực nghiệm, phát triển công nghệ, ứng dụng công nghệ, dịch vụ KH&CN, phát huy sáng kiến và hoạt động sáng tạo khác nhằm phát triển KH&CN. Nguồn lực tài chính cho phát triển KH&CN là lượng vốn huy động thực tế dưới dạng tiền tệ và tài sản có khả năng quy đổi ra tiền tệ, đã và đang được huy động để hình thành nên các quỹ tài chính và được sử dụng để phục vụ cho sự phát triển của KH&CN ở mỗi quốc gia. Nguồn lực tài chính cho phát triển KH&CN đa dạng, đến từ các chủ thể khác nhau trong xã hội, với quy mô và phạm vi khác nhau. Một số nhân tố ảnh hưởng đến nguồn lực tài chính phát triển KH&CN như: (i) Vấn đề quản lý nhà nước đối với nguồn lực tài chính cho phát triển KH&CN; (ii) Nhận thức vai trò của KH&CN; (iii) Các nhân tố thị trường; (iv) Sự phát triển của thị trường tài chính.

(2) Đề tài đã phân tích được kinh nghiệm một số nước trong huy động và sử dụng nguồn lực tài chính cho phát triển KH&CN như Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc, Singapore, Thái Lan, Malaysia... từ đó đề tài đã rút ra một số bài học kinh nghiệm cho Việt Nam như: (i) Chính sách huy động và sử dụng nguồn lực tài chính cho KH&CN cần xuất phát và bám sát vào những mục tiêu của chiến lược KH&CN của quốc gia trong từng thời kỳ; (ii) Việc huy động và sử dụng nguồn lực tài chính cho KH&CN phải trên nền tảng có sự hợp tác giữa khu vực công và khu vực tư; (iii) Các chính sách hiện hành của các quốc gia như Singapore, Malaysia, Hàn Quốc đều cho thấy sự quan trọng của việc đầu tư và nuôi dưỡng một hệ sinh thái khởi nghiệp thịnh vượng để phát triển KH&CN; (iv) Vai trò của Chính phủ trong việc thúc đẩy đổi mới, KH&CN cần được xác định rõ ràng, điều chuyển linh hoạt, phụ thuộc vào từng giai đoạn phát triển KH&CN và đặc điểm của mỗi quốc gia; (v) Cần áp dụng các chính sách hỗ trợ về pháp lý, thủ tục hành chính cho hoạt động liên quan đến KH&CN, tạo dựng môi trường đầu tư, kinh doanh thuận lợi cho hoạt động của các doanh nghiệp; (vi) Doanh nghiệp nhỏ và vừa là đối tượng cần chú trọng đặc biệt trong thiết kế chính sách tài chính cho phát triển KH&CN.

(3) Đề tài đã phân tích được thực trạng phát triển KH&CN tại Việt Nam giai đoạn 2011 - 2020; thực trạng huy động và sử dụng nguồn lực tài chính cho phát triển KH&CN tại Việt Nam. Theo đó, KH&CN đã có những đóng góp quan trọng, toàn diện trong phát triển kinh tế - xã hội trong giai đoạn 2011 - 2020. Chất lượng tăng trưởng được cải thiện, năng suất lao động được nâng lên rõ rệt, chỉ số Năng suất các nhân tố tổng hợp (TFP) tăng từ 33,6% (giai đoạn 2011 - 2015) lên 44,46% giai đoạn (2016 - 2019), tỷ trọng giá trị xuất khẩu sản phẩm công nghệ cao trong tổng giá trị hàng hóa xuất khẩu đạt 50% năm 2020. Trong giai đoạn 2016 - 2020, chi NSNN cho phát triển KH&CN vẫn có xu hướng tăng và được đảm bảo ở mức 2% tổng chi NSNN. Về thực trạng huy động và sử dụng nguồn lực tài chính ngoài NSNN cho phát triển KH&CN, có 02 nguồn lực chính từ ngoài NSNN cho phát triển KH&CN như các quỹ phát triển KH&CN, nguồn lực tài chính từ doanh nghiệp.

(4) Đề tài đã làm rõ được một số kết quả đạt được trong huy động và sử dụng nguồn lực tài chính cho phát triển KH&CN như: (i) Chi NSNN cho KH&CN có xu hướng tăng trong gần 20 năm qua và nếu tính cả chi NSNN cho KHCN trong chi quốc phòng, an ninh, đặc biệt và chi từ nguồn ưu đãi thu nhập tính thuế, thì chi NSNN cho phát triển KH&CN cũng đã được đảm bảo ở mức 2%; (ii) Khu vực địa phương đã có sự ưu tiên trong đầu tư, tăng cường cơ sở vật chất trang thiết bị cho KH&CN; (iii) Quỹ phát triển KH&CN quốc gia đã góp phần tích cực vào việc nâng cao năng lực KH&CN quốc gia, mở ra cơ hội nghiên cứu cho các nhà khoa học trẻ; (iv) Việc huy động và sử dụng nguồn lực từ Quỹ đổi mới công nghệ quốc gia bước đầu tạo ra phương thức tài trợ mới, giảm thời gian, thủ tục trong quá trình thực hiện nhiệm vụ, hỗ trợ các doanh nghiệp nâng cao hiệu quả hoạt động sản xuất, kinh doanh; (v) Đầu tư cho KH&CN từ NSNN và từ doanh nghiệp đã tương đối cân bằng với tỷ lệ trung bình tương ứng là 40% và 60%.

(5) Đề tài đã phân tích được một số tồn tại, hạn chế trong huy động và sử dụng nguồn lực tài chính cho phát triển KH&CN như: (i) Chi NSNN cho KH&CN có xu hướng tăng hằng năm và luôn được đảm bảo ở mức 2% tổng chi NSNN, nhưng nếu không tính chi cho an ninh, quốc phòng và ưu đãi từ thuế thì chi NSNN cho Kh&CN chỉ đạt khoảng 1,5% tổng chi NSNN; (ii) Đầu tư NSNN cho KH&CN đã có tăng nhưng vẫn chưa đáp ứng đủ với nhu cầu phát triển, đẩy mạnh các hoạt động nghiên cứu, đổi mới khoa học công nghệ như hiện nay; (iii) Về cơ cấu chi NSNN, trong tổng chi KH&CN, tỷ lệ chi đầu tư phát triển có xu hướng giảm, trong khi đó tỷ lệ chi sự nghiệp KH&CN có xu hướng tăng; (iv) Cơ chế chính sách về huy động và sử dụng nguồn lực từ NSNN cho KH&CN còn một số vấn đề bất cập; (v) Việc huy động và sử dụng nguồn lực từ Quỹ phát triển KH&CN quốc gia, nguồn thu chủ yếu của Quỹ vẫn là từ NSNN cấp, chưa thu hút được nhiều từ các nguồn khác, cơ chế quản lý các đề tài tuy đã có đổi mới nhưng vẫn còn nặng tính hành chính, thủ tục hành chính còn rườm rà, gây khó khăn cho các chủ nhiệm; (vi) Với Quỹ đối mới công nghệ Quốc gia, điều lệ, mô hình tổ chức hoạt động của Quỹ chưa phù hợp với các văn bản pháp luật hiện hành, nguồn thu của Quỹ vẫn chủ yếu từ NSNN cấp; (vii) Đối với nguồn lực tài chính từ doanh nghiệp, tỷ lệ sử dụng Quỹ phát triển KH&CN khá thấp. Trong giai đoạn trước năm 2016, với 29 doanh nghiệp trích lập Quỹ, tổng số vốn huy động được là 9.600 tỷ đồng, nhưng tổng số vốn được sử dụng chỉ khoảng 900 tỷ đồng, chiếm khoảng 10%, như vậy tỷ lệ thực chi trong giai đoạn này rất thấp.

(6) Trên cơ sở phân tích kinh nghiệm các nước và đánh giá thực trạng của Việt Nam trong huy động và sử dụng nguồn lực tài chính cho phát triển KH&CN, đề tài đã đề xuất được một số nhóm giải pháp cho phát triển KH&CN ở Việt Nam. Một số giải pháp trọng tâm gồm: (i) Tiếp tục đảm bảo bố trí đủ nguồn lực từ NSNN cho KH&CN (khoảng 2% GDP), coi đây là nền tảng xây dựng và phát triển hoạt động KH&CN; (ii) Có định hướng ưu tiên trong phân bổ NSNN cho phát triển KH&CN, trong đó ưu tiên tập trung nguồn lực đầu tư vào các lĩnh vực trọng điểm được xác định trong Chiến lược phát triển KH&CN giai đoạn sắp tới (2021 - 2030); (iii) Điều chỉnh cơ cấu chi NSNN đầu tư cho KH&CN, theo hướng tăng chi đầu tư cho KH&CN, đảm bảo mức kinh phí phù hợp giữa trung ương và địa phương; (iv) Rà soát, sửa đổi cơ chế chính sách liên quan huy động và sử dụng nguồn lực từ NSNN để nâng cao hiệu quả sử dụng NSNN, góp phần phát triển KH&CN; (v) Đối với Quỹ phát triển KH&CN quốc gia, cần rà soát, trình cấp có thẩm quyền sửa đổi, bổ sung vốn điều lệ và điều lệ hoạt động của Quỹ Phát triển KH&CN quốc gia theo hướng nâng cao tính chủ động cho Quỹ trong việc xét duyệt danh mục tài trợ, định mức và phương thức tài trợ, ngoài ra cần nâng cao hiệu quả hoạt động của cơ quan quản lý Quỹ, sắp xếp đội ngũ cán bộ cho phù hợp với tình hình hoạt động thực tế của Quỹ, đồng thời tăng cường và nâng cao hiệu quả của công tác tuyên truyền về Quỹ và các hoạt động của Quỹ; (vi) Đối với Quỹ đổi mới công nghệ quốc gia, cần sớm ban hành quy định sửa đổi Điều lệ hoạt động của Quỹ cho phù hợp với các văn bản pháp luật hiện hành như Luật NSNN, Luật Chuyển giao công nghệ..., thực hiện cơ cấu lại Quỹ đổi mới công nghệ quốc gia, xem xét lại các nhiệm vụ chi tài trợ của quỹ, tránh tình trạng trùng lặp nhiệm vụ chi với các quỹ khác; (vii) Đối với nguồn lực tài chính từ doanh nghiệp, cần xem xét lại các quy định về công nhận sử dụng Quỹ đúng mục đích, hoặc đạt tỷ lệ sử dụng từ 70% trở lên, đồng thời cần trao quyền tự chủ nhiệm hơn cho doanh nghiệp trong quá trình sử dụng Quỹ, quy định mức trích quỹ phát triển KH&CN tối thiểu (có thể là 10% lợi nhuận trước thuế) để doanh nghiệp có thể đầu tư nhiều hơn cho việc phát triển KH&CN. Ngoài ra, cần rà soát, sửa đổi các văn bản có liên quan đến Quỹ phát triển KH&CN doanh nghiệp.

Bình chọn

Điểm bình chọn
0 / 5
Tổng 0 lượt bình chọn
5
0%
4
0%
3
0%
2
0%
1
0%