Khoa học tài chính trong các lĩnh vực kinh tế - xã hội ở Việt Nam: Thực trạng và khuyến nghị

Khoa học tài chính trong các lĩnh vực kinh tế - xã hội ở Việt Nam: Thực trạng và khuyến nghị 01/04/2022 17:54:00 101

Cỡ chữ:A- A+
Tương phản:Giảm Tăng

Khoa học tài chính trong các lĩnh vực kinh tế - xã hội ở Việt Nam: Thực trạng và khuyến nghị

01/04/2022 17:54:00

 

- Đơn vị chủ trì: Ban Quản lý khoa học và Hợp tác quốc tế

- Chủ nhiệm nhiệm vụ: TS. Lê Thị Thùy Vân

- Năm giao nhiệm vụ: 2020/Mã số: 2020-39

 

1. Tính cấp thiết của vấn đề nghiên cứu

Tài chính là nguồn lực quan trọng để phát triển kinh tế - xã hội (KT-XH) bên cạnh các yếu tố đầu vào khác như lao động, khoa học và công nghệ (KH&CN); tài nguyên thiên nhiên, đặc biệt với các nước đang phát triển, nơi tăng trưởng chủ yếu là tăng trưởng theo chiều rộng, dựa trên cơ sở giải phóng nguồn lực con người, tài nguyên và thâm dụng vốn. Để nguồn lực tài chính được sử dụng hiệu quả, vai trò của chính sách tài chính (CSTC) là vô cùng quan trọng ở cả tầm vĩ mô và vi mô. Do vậy, việc xây dựng được hệ thống CSTC đồng bộ, hiệu quả, phù hợp là yếu tố quyết định để nguồn lực tài chính được phát huy tối đa vai trò của mình. Việc này lại phụ thuộc vào những luận cứ khoa học, kinh nghiệm được đúc kết từ quốc tế cũng như trong nước phục vụ cho quá trình ra quyết định.

Tại Việt Nam, khoa học tài chính (KHTC) đã tạo cơ sở lý luận và thực tiễn để Nhà nước ban hành các văn bản pháp luật nhằm hoàn thiện cơ chế, CSTC, các chủ trương, quyết sách lớn của Đảng và Nhà nước về tài chính - tiền tệ quốc gia. Đồng thời, cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh, đề xuất các giải pháp tháo gỡ các khó khăn cho doanh nghiệp và nền kinh tế. Thông qua các kết quả nghiên cứu, KHTC đã tạo dựng cơ sở lý luận, cung cấp kinh nghiệm quốc tế trong việc xây dựng, triển khai và kiểm soát các CSTC phục vụ mục tiêu phát triển trong các lĩnh vực kinh tế (công nghiệp, xây dựng; nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản; và dịch vụ…). Bên cạnh đó, từ kết quả nghiên cứu của KHTC cũng giúp nâng cao hiệu quả CSTC đối với việc thực hiện các mục tiêu về xã hội (y tế, giáo dục, KH&CN, văn hóa, thể thao...).

Tuy nhiên, vai trò của KHTC nói riêng, KH&CN nói chung tại Việt Nam thời gian qua vẫn chưa được nhận diện và đánh giá đúng mức, dẫn đến thiếu các chính sách phát triển có hiệu quả. Một số hạn chế chính bao gồm: (i) Số lượng các nghiên cứu về lĩnh vực tài chính ở các bộ, ngành và địa phương vẫn còn hạn chế, thiếu đội ngũ chuyên gia giỏi trong lĩnh vực tài chính; (ii) Sự gắn kết giữa cơ chế phối hợp nghiên cứu giữa các ngành với ngành Tài chính chưa hiệu quả; (iii) Hạn chế trong việc ứng dụng các kết quả nghiên cứu khoa học tại các đơn vị thuộc các bộ, ngành, làm hạn chế vai trò của tài chính trong phát triển kinh tế xã hội; (iv) Thiếu cơ chế thúc đẩy phát triển tiềm năng của đội ngũ nhân lực phục vụ nghiên cứu KH&CN nói chung, KHTC nói riêng. Do vậy, Chương trình nghiên cứu khảo sát: “Khoa học tài chính trong các lĩnh vực kinh tế - xã hội ở Việt Nam: Thực trạng và khuyến nghị” là cần thiết, có ý nghĩa lý luận và thực tiễn.

2. Mục tiêu nghiên cứu

Nghiên cứu vai trò của KHTC trong các lĩnh vực KT-XH, từ đó đề xuất các giải pháp nâng cao vai trò của KHTC trong các lĩnh vực KT-XH ở Việt Nam.

3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu: nghiên cứu KH&CN về tài chính trong các lĩnh vực KT-XH.

Phạm vi nghiên cứu:

+ Về nội dung: nghiên cứu, khảo sát vai trò của KHTC trong các lĩnh vực KT-XH ở Việt Nam (sản xuất nông, lâm, thủy sản; tài nguyên môi trường; công thương; giao thông vận tải; y tế...)

+ Về không gian: Bên cạnh nghiên cứu tổng quan về vai trò KHTC ở Việt Nam, nhóm nghiên cứu khảo sát thực tế ở một số bộ, ngành và địa phương ở Miền Bắc và Miền Trung để làm rõ các phân tích, nhận định.

4. Kết quả nghiên cứu

(1) Đề tài đã khái quát được một số vấn đề chung về KHTC. Theo đó, KHTC được hiểu là một bộ phận của khoa học xã hội và nhân văn, bao gồm các nghiên cứu mang tính độc lập của lĩnh vực dịch vụ tài chính, hoặc là một phần trong các nghiên cứu về tài chính trong tổng thể nghiên cứu thuộc các lĩnh vực KT-XH khác. Vai trò quan trọng của KHTC được thể hiện thông qua những đóng góp vào việc nâng cao hiệu quả trong việc xây dựng, ban hành và thực thi các chính sách tài chính, qua đó đóng góp vào sự phát triển chung của đất nước. Các vai trò cụ thể như: KHTC nâng cao hiệu quả của việc ban hành và thực thi các CSTC và các chính sách có liên quan; Đóng góp vào xây dựng các chủ trương, đường lối phát triển KT-XH đất nước; Nâng cao hiệu quả của quá trình hội nhập kinh tế thế giới.

Để thúc đẩy phát triển KHTC, bên cạnh các yếu tố vĩ mô cần tập trung vào nâng cao khả năng huy động và sử dụng nguồn lực tài chính, chú trọng đào tạo nâng cao trình độ đội ngũ cán bộ nghiên cứu khoa học, cũng như trang bị đầy đủ các trang thiết bị cần thiết phục vụ công tác nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ.

(2) Đề tài đã làm rõ vai trò của KHTC đối với sự phát triển KT-XH thông qua nghiên cứu khảo sát tại các bộ, ngành và một số địa phương điển hình tại Miền Bắc và Miền Trung. Theo đó, Đề tài đã chỉ ra các kết quả đạt được của KHTC tại các bộ, ngành như: (i) Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về KH&CN đã cơ bản được hoàn thiện; (ii) Chi ngân sách nhà nước cho nghiên cứu khoa học ngày càng được quan tâm, mức chi có xu hướng tăng; sự phối hợp giữa nhà nước với khu vực tài chính nhân, giữa các đơn vị nghiên cứu và triển khai ứng dụng ngày càng được chú trọng; (iii) Đóng góp của nghiên cứu khoa học cho sự phát triển của bộ, ngành, địa phương ngày càng tăng, đặc biệt đóng góp cho việc xây dựng chiến lược phát triển ngành, lĩnh vực tài chính trong trung và dài hạn.

Đề tài cũng đã chỉ ra một số tồn tại, hạn chế trong việc triển khai thực hiện các nghiên cứu khoa học nói chung và trong lĩnh vực tài chính nói riêng, dẫn đến hạn chế mức đóng góp của KHTC cho phát triển KT-XH. Tại các bộ, ngành: (i) Các nghiên cứu về lĩnh vực tài chính tại các bộ, ngành còn rất hạn chế; (ii) Đội ngũ cán bộ có chuyên môn nghiên cứu lĩnh vực tài chính của các bộ, ngành còn hạn chế về chuyên môn tài chính; (iii) Cơ chế phối hợp nghiên cứu giữa các ngành với ngành Tài chính chưa có nên việc phối hợp thực hiện chương trình nghiên cứu KH&CN giữa các bên còn hạn chế; (iv) Hạn chế trong việc ứng dụng các kết quả nghiên cứu khoa học tại các đơn vị thuộc các bộ, ngành.

Trong khi đó, tại các địa phương các hạn chế bao gồm: số lượng các nhiệm vụ nghiên cứu, ngân sách dành cho KH&CN trong lĩnh vực tài chính còn hạn chế, các tổ chức KH&CN chưa phát triển mạnh mẽ, mối liên kết giữa nghiên cứu khoa học và ứng dụng thực tế chưa chặt chẽ.

(3) Trên cơ sở nghiên cứu định hướng phát triển KH&CN Việt Nam giai đoạn 2021-2030, chương trình nghiên cứu khảo sát đã đề xuất một số giải pháp, khuyến nghị nhằm nâng cao vai trò của KHTC đối với sự phát triển KT-XH trong thời gian tới, cụ thể:

Nhóm giải pháp nâng cao vai trò của KH&CN đối với các lĩnh vực KT-XH:

(i) Tiếp tục đổi mới và hoàn thiện thể chế, chính sách phát triển KH&CN, phát triển mạnh khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo, lấy doanh nghiệp làm trung tâm; thúc đẩy phát triển mô hình kinh doanh mới, kinh tế số, xã hội số; nâng cao hiệu quả ứng dụng, chuyển giao công nghệ và hiệu quả hoạt động thực thi sở hữu trí tuệ; hoàn thiện các chính sách hỗ trợ tài chính cho hoạt động KH&CN theo hướng khuyến khích, hỗ trợ trực tiếp cho các doanh nghiệp phát triển KH&CN, tập trung vào các hoạt động nghiên cứu và phát triển của doanh nghiệp, các dự án công nghệ cao và khuyến khích khởi nghiệp.

(ii) Nâng cao tiềm lực KH&CN, tập trung vào chất lượng đội ngũ cán bộ KH&CN, nguồn lực tài chính cho KH&CN, có chính sách nâng cao trình độ, năng lực đội ngũ trí thức trẻ; bổ sung, hoàn thiện chính sách thu hút, đãi ngộ đối với những trí thức là người Việt Nam ở nước ngoài có trình độ chuyên môn cao, có năng lực quản trị, điều hành, có khả năng chuyển giao công nghệ, kỹ thuật; bố trí đủ nguồn lực từ NSNN cho KH&CN (khoảng 2% GDP); điều chỉnh cơ cấu chi ngân sách nhà nước đầu tư cho KH&CN; tập trung nguồn lực tăng cường cơ sở vật chất một số cơ quan nghiên cứu khoa học quốc gia ngang tầm khu vực và thế giới.

(iii) Tập trung phát triển kinh tế tri thức, kinh tế số, sáng tạo coi đó là động lực quan trọng nhất trong việc chuyển đổi mô hình tăng trưởng kinh tế từ chiều rộng sang chiều sâu, định hướng sản xuất các mặt hàng có hàm lượng khoa học, công nghệ cao, tham gia sâu vào chuỗi cung ứng toàn cầu; đồng bộ thể chế phát triển, ứng dụng KH&CN và đổi mới sáng tạo với cơ chế phát triển KT-XH dựa trên đổi mới sáng tạo (tạo cầu) và cơ chế liên kết phát triển KH&CN với phát triển KT-XH.

Nhóm giải pháp nâng cao vai trò của nghiên cứu khoa học về tài chính đối với các lĩnh vực KT-XH:

Đối với các bộ, ngành: (i) Tiếp tục đẩy mạnh hoạt động nghiên cứu khoa học trong lĩnh vực chuyên ngành theo hướng chú trọng hiệu quả, tính ứng dụng; (ii) Nghiên cứu xây dựng cơ chế phối hợp nghiên cứu giữa ngành Tài chính với các ngành khác để thực hiện một số chương trình, nhiệm vụ KH&CN nhằm tận dụng và phát huy lợi thế của cả hai bên vào công trình nghiên cứu; (iii) Nâng cao chất lượng đề xuất, phương thức giao và triển khai các nhiệm vụ KH&CN cấp Bộ; (iv) Chú trọng việc thu hút các cán bộ có trình độ, chuyên môn nghiệp vụ giỏi.

Đối với các địa phương: (i) Xác định rõ ràng nhiệm vụ đặt ra cho KH&CN; (ii) Các Sở KH&CN địa phương cần tăng cường tương tác, phối hợp với các sở, ngành khác, tiếp tục phát huy hiệu quả liên kết vùng trong tập trung hỗ trợ các chuỗi sản xuất - kinh doanh; (iii) Các địa phương miền núi cần căn cứ vào vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên thuận lợi để thực hiện chuyển giao ứng dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật phục vụ sản xuất; cần đa dạng hóa lĩnh vực nghiên cứu, theo hướng tập trung nghiên cứu đối với các lĩnh vực ưu tiên phát triển; (iv) Tăng cường đào tạo và thu hút, phối hợp với đội ngũ nhân tài tham gia nghiên cứu khoa học nhằm hướng đến sản phẩm nghiên cứu có chất lượng cao phục vụ cho nhu cầu của địa phương; (v) Bộ KH&CN phối hợp với Bộ Tài chính nghiên cứu cơ chế tháo gỡ khó khăn về tài chính cho hoạt động KH&CN tại các địa phương.

Bình chọn

Điểm bình chọn
0 / 5
Tổng 0 lượt bình chọn
5
0%
4
0%
3
0%
2
0%
1
0%