Phát triển thị trường vốn đầu tư mạo hiểm ở Việt Nam

Phát triển thị trường vốn đầu tư mạo hiểm ở Việt Nam 01/04/2022 17:51:00 357

Cỡ chữ:A- A+
Tương phản:Giảm Tăng

Phát triển thị trường vốn đầu tư mạo hiểm ở Việt Nam

01/04/2022 17:51:00

- Đơn vị chủ trì: Ban Phát triển thị trường tài chính

- Chủ nhiệm nhiệm vụ: ThS. Nguyễn Thị Hải Bình

- Năm giao nhiệm vụ: 2020/Mã số: 2020-32

 

1. Tính cấp thiết của vấn đề nghiên cứu

Với sự phát triển nhanh chóng và những lợi ích kinh tế của quỹ đầu tư mạo hiểm trên các thị trường tài chính thế giới đã và đang thu hút được nhiều sự quan tâm của nhà đầu tư tài chính và chính phủ các nước và là nguồn vốn quan trọng cho các doanh nghiệp khởi nghiệp. Mỹ, Châu Âu, Israel, Canada, Trung Quốc và Ấn Độ có những thị trường phát triển nhất cho môi trường đầu tư mạo hiểm. Quy mô của thị trường đầu tư mạo hiểm toàn cầu đạt khoảng 50 tỷ đô la (tính đến năm 2015) và Mỹ có nhiều quỹ đầu tư mạo hiểm nhất khoảng 33,1 tỷ đô la (năm 2013). Lĩnh vực hấp dẫn nhất đối với đầu tư mạo hiểm là công nghệ thông tin, (trong đó Mỹ, Israel và Canada, đã đầu tư hơn 10 tỷ đô la vào năm 2013 trong lĩnh vực này), trong khi sản phẩm tiêu dùng được các quốc gia châu Âu, Trung Quốc và Ấn Độ quan tâm đầu tư (với hơn 4,8 tỷ đô la vào năm 2013). Giới đầu tư đang có động thái quay lại tìm kiếm cơ hội đầu tư, đặc biệt là đầu tư vào các dự án khởi nghiệp tại thị trường châu Á. Nhiều chuyên gia dự báo sẽ có thời điểm bùng nổ thị trường vốn đầu tư mạo hiểm tại khu vực châu Á. Nhằm thúc đẩy các doanh nghiệp khởi nghiệp và phát triển thị trường vốn đầu tư mạo hiểm, Chính phủ nhiều nước đã hoàn thiện khung pháp lý, đồng thời ban ban hành một số cơ chế, chính sách thúc đẩy thị trường vốn đầu tư mạo hiểm, trong đó có chính sách tài chính như thuế, tín dụng ưu đãi, quản lý giám sát,…

Ở Việt Nam, số lượng các doanh nghiệp khởi nghiệp đã tăng lên nhanh chóng (theo Bộ Khoa học và Công nghệ, tính đến năm 2019 Việt Nam có khoảng 3.000 doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo (DNKNST). Đây sẽ là lực lượng doanh nghiệp tiên phong, có tăng trưởng cao để đóng góp hiệu quả vào sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Tuy nhiên, các DNKNST ở Việt Nam gặp nhiều khó khăn khi thực hiện do thiếu kinh nghiệm quản lý, kinh doanh, đặc biệt là thiếu vốn. Trong bối cảnh vay vốn ngân hàng gặp khó khăn, nhất là với các doanh nghiệp nhỏ, doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo vốn không có nhiều tài sản thế chấp, việc phát triển thị trường vốn đầu tư mạo hiểm có ý nghĩa quan trọng nhằm cung cấp và khơi thông nguồn vốn cho các doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo, đồng thời phù hợp với bối cảnh và xu hướng thế giới.

Để phát triển thị trường vốn đầu tư mạo hiểm, về phía cầu những năm gần đây, Đảng và Chính phủ đã có những định hướng, chỉ đạo kịp thời để thúc đẩy khởi nghiệp, đặc biệt là khởi nghiệp sáng tạo như Nghị quyết số 19-2016/CP-NQ; Nghị quyết số 35/NQ-CP ngày 16/5/2016; Đề án hỗ trợ hệ sinh thái khởi nghiệp đổi mới sáng tạo quốc gia đến năm 2025, được phê duyệt tại Quyết định số 844/QĐ-TTg ngày 18/5/2016; đặc biệt Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa số 04/2014/QH14 đã xác định một số nguyên tắc cơ bản về đầu tư cho doanh nghiệp nhỏ và vừa khởi nghiệp sáng tạo, ưu đãi về thuế thu nhập doanh nghiệp và cơ chế đầu tư vào doanh nghiệp nhỏ và vừa khởi nghiệp sáng tạo có sử dụng ngân sách nhà nước. lang pháp lý hỗ trợ khởi nghiệp đổi mới sáng tạo cũng đã được hoàn thiện thêm một bước sau khi Quốc hội thông qua Luật Chuyển giao công nghệ 2017, Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Đề án “Hỗ trợ hệ sinh thái khởi nghiệp đổi mới sáng tạo quốc gia đến năm 2025” (Quyết định số 884/QĐ-TTg),… đã có nhiều quy định mới hỗ trợ khởi nghiệp sáng tạo, đồng thời tạo ra một mặt bằng pháp lý chung cho các nhà đầu tư trong và ngoài nước. Đặc biệt Nghị định số 38/2018/NĐ-CP ngày 11/3/201 Chính phủ về Quy định chi tiết về đầu tư cho doanh nghiệp nhỏ và vừa khởi nghiệp sáng tạo ra đời tạo khung pháp lý cho các hoạt động đầu tư đối với các doanh nghiệp khởi nghiệp, đặc biệt là quỹ đầu tư mạo hiểm. Về phía cung, Đề án “Hỗ trợ hệ sinh thái khởi nghiệp đổi mới sáng tạo quốc gia đến năm 2025” nhấn mạnh xây dựng một thị trường vốn đầu tư mạo hiểm bền vững là nền tảng thúc đẩy ứng dụng công nghệ đổi mới sáng tạo trong doanh nghiệp nói riêng và tăng trưởng của cả nền kinh tế nói chung. Bên cạnh đó, Luật Đầu tư, Luật Doanh nghiệp có hiệu từ ngày 1/7/2016, đã minh bạch hơn và tạo sự thông thoáng cho các nhà đầu tư nước ngoài cả về mặt gia nhập thị trường, thủ tục đầu tư, hình thức đầu tư và ưu đãi đầu tư, xử lý tranh chấp... Đây là những cơ sở nền tảng bước đầu cho việc hình thành và phát triển thị trường vốn đầu tư mạo hiểm ở Việt Nam. Tuy nhiên, hiện nay nguồn vốn cho các doanh nghiệp trẻ, doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo vẫn còn hạn chế, mặc dù đã có sự tăng trưởng vượt bậc trong năm 2019 - 2020.

Vì vậy, với tình hình kinh tế Việt Nam hiện nay, việc phát triển thị trường vốn đầu tư mạo hiểm nói chung và các mô hình quỹ đầu tư mạo hiểm nói riêng là rất cần thiết để thực hiện sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước trong bối cảnh nền kinh tế Việt Nam, đặc biệt là khu vực kinh tế tư nhân, cần nguồn vốn rất lớn. Tuy nhiên, cung vốn ở Việt Nam còn hạn chế, quy mô thị trường vốn nhỏ so với khu vực. Vì vậy, cung và cầu về vốn mạo hiểm ở Việt Nam còn có sự chêch lệch lớn, đặt ra nhu cầu hình thành, phát triển thị trường vốn đầu tư mạo hiểm và các cơ chế chính sách góp phần thúc đẩy sự phát triển các hoạt động đầu tư mạo hiểm ở Việt Nam nhằm tạo ra kênh trung chuyển vốn mạo hiểm hiệu quả, phục vụ cho sự phát triển kinh tế đất nước.

Xuất phát từ tiềm năng của Việt Nam và định hướng phát triển của Chính phủ, việc lựa chọn chủ đề nghiên cứu “Phát triển thị trường vốn đầu tư mạo hiểm ở Việt Nam” nhằm mục tiêu nghiên cứu cơ bản và đánh giá tiềm năng phát triển thị trường vốn đầu tư mạo hiểm tại Việt Nam để đề xuất một số khuyến nghị chính sách nhằm thúc đẩy sự phát triển và tăng cường hiệu quả quản lý, giám sát đối với thị trường vốn đầu tư mạo hiểm ở Việt Nam trong thời gian tới.

2. Mục tiêu nghiên cứu

Mục tiêu nghiên cứu của đề tài nhằm đề xuất các giải pháp và các điều kiện cần và đủ, lộ trình thực hiện nhằm phát triển thị trường vốn đầu tư mạo hiểm ở Việt Nam.

3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là phát triển thị trường vốn đầu tư mạo hiểm ở Việt Nam.

4. Kết quả nghiên cứu

(1) Đề tài đã đã hệ thống hóa các vấn đề lý luận cơ bản về thị trường vốn đầu tư mạo hiểm, vai trò và chức năng của thị trường vốn đầu tư mạo hiểm, các yếu tố cơ bản của thị trường vốn đầu tư mạo hiểm, các tiêu chí đánh giá, điều kiện để phát triển thị trường vốn đầu tư mạo hiểm. Từ đó nhóm tác giả cũng đã xem xét kinh nghiệm thực tiễn của một số nước về phát triển thị trường vốn đầu tư mạo hiểm ở một số quốc gia, trong đó tập trung vào thực trạng và chính sách. Trên cơ sở đó nhóm tác giả đã rút ra một số bài học kinh nghiệm cho Việt Nam như: tăng cường vai trò của nhà nước trong việc thúc đẩy phát triển thị trường vốn đầu tư mạo hiểm; xây dựng và hoàn thiện khung pháp lý cho hoạt động của thị trường vốn đầu tư mạo hiểm; tăng cường vai trò của nhà đầu tư trong và nước ngoài đối với sự phát triển của thị trường vốn đầu tư mạo hiểm; xây dựng ngành công nghệ mũi nhọn có tiềm năng để thu hút vốn đầu tư mạo hiểm; áp dụng một số cơ chế, chính sách ưu đãi nhằm phát triển thị trường vốn đầu tư mạo hiểm bao gồm về thuế, đất đai, thuế đánh trên lợi nhuận vốn (capital gain tax), các chương trình tín dụng ưu đãi…

(2) Đề tài đã đánh giá thực trạng phát triển thị trường vốn đầu tư mạo hiểm ở Việt Nam và thấy rằng thị trường vốn đầu tư mạo hiểm của Việt Nam còn khá “non trẻ”, chủ yếu phát triển vài năm trở lại đây nhờ sự bùng nổ của các doanh nghiệp khởi nghiệp thúc đẩy nhu cầu vốn cho đầu tư mạo hiểm tăng cao. Bên cạnh đó, việc Đảng, Nhà nước quan tâm thông qua các nghị quyết, quyết định và các chỉ thị, tập trung xây dựng, hoàn thiện các văn bản pháp lý và các cơ chế chính sách ưu đãi cũng góp phần thúc đẩy sự pháp triển của thị trường. Mặc dù vậy, thị trường vốn đầu tư mạo hiểm ở Việt Nam còn nhiều vấn đề phải khắc phục như: (i) hệ thống hành lang pháp lý chưa hoàn thiện và đầy đủ, sự tham gia của các nhà đầu tư nước ngoài tuy có tăng lên trong vài năm trở lại đây nhưng quy mô còn nhỏ; (ii) Số lượng Quỹ đầu tư mạo hiểm trong nước còn khiêm tốn; (iii) Thiếu vắng các nhà đầu tư thiên thần, các hoạt động gọi vốn cộng đồng, trong khi các vườm ươm chất lượng vẫn còn hạn chế…. Ngoài ra, nhóm nghiên cứu cũng đã phân tích làm rõ một số nguyên nhân ảnh hưởng đến sự phát triển của thị trường vốn đầu tư mạo hiểm đó là: (i) thiếu cơ chế chính sách phù hợp, đủ mạnh để thúc đẩy khởi nghiệp sáng tạo; (ii) năng lực trình độ và chất lượng nguồn nhân lực còn hạn chế; (iii) các doanh nghiệp chưa có sự chuẩn bị tốt; (iv) thị trường tài chính quy mô còn nhỏ, chưa đủ sức hấp dẫn các nhà đầu tư lớn,….

(3) Trước tác động của đại dịch Covid-19 mặc dù dòng vốn đầu tư có giảm xuống nhưng triển vọng về thị trường vốn đầu tư mạo hiểm trong thời gian tới của Việt Nam được dự báo sẽ tiếp tục phát triển mạnh, nhờ một số tiềm năng sau: (i) bối cảnh thế giới có những tác động tích cực, thúc đẩy sự phát triển của thị trường vốn đầu tư mạo hiểm, đó là khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và Cách mạng công nghiệp lần thứ tư; (ii) môi trường kinh tế vĩ mô Việt Nam tiếp tục ổn định, đặc biệt là các cân đối lớn của nền kinh tế. Mô hình tăng trưởng chuyển đổi theo hướng phát triển hài hòa giữa chiều rộng và chiều sâu; nền kinh tế tăng trưởng xanh, phát triển kinh tế các bon thấp. Môi trường kinh doanh, năng lực cạnh tranh của nền kinh tế được cải thiện, niềm tin tiêu dùng và đầu tư được nâng cao. Cùng với đó, thể chế kinh tế tiếp tục được kiện toàn, thực hiện đồng bộ, hiện đại; hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu rộng và sẽ có nhiều ảnh hưởng sâu sắc đến nền kinh tế trong nước. Kinh tế Việt Nam dự báo tiếp tục duy trì được tốc độ tăng trưởng khá trong giai đoạn tới. Đây là những tiền đề quan trọng để thu hút các nhà đầu tư nói chung và các nhà đâu tư trên thị trường vốn đầu tư mạo hiểm nói riêng; (iii) nỗ lực của Chính phủ trong việc thúc đẩy hệ sinh thái khởi nghiệp sáng tạo - một yếu tố quan trọng là nguồn cung hàng hóa cho sự phát triển của thị trường vốn đầu tư mạo hiểm. Việt Nam hiện đang được đánh giá là một trong những hệ sinh thái khởi nghiệp năng động và phát triển nhanh trong khu vực Đông Nam Á; (iv) Việt Nam có tiềm năng phát triển thị trường tài và hứa hẹn mang lại sự khởi sắc trong hoạt động đầu tư và thu hút các nhà đầu tư nước ngoài vào thị trường vốn đầu tư mạo hiểm ở Việt Nam trong giai đoạn tới; (v) đại dịch Covid-19 được xem là “cú hích” cho thấy tầm quan trọng của lĩnh vực y tế, tiềm năng tăng trưởng của ngành chăm sóc sức khỏe tư nhân và các dịch vụ giáo dục. Bên cạnh lĩnh vực y tế, giáo dục, dịch vụ tài chính nhiều nhà đầu tư, quỹ đầu tư mạo hiểm cũng đang hướng vào lĩnh vực năng lượng sạch, tăng trưởng xanh trong bối cảnh biến đổi khí hậu diễn biến ngày càng phức tạp.

Trên cơ sở phân tích thực trạng phát triển thị trường vốn đầu tư mạo hiểm ở Việt Nam và những vấn đề đặt ra, từ nghiên cứu lý luận và kinh nghiệm quốc tế, đề tài đề xuất một số khuyến nghị đối với việc phát triển thị trường vốn đầu tư mạo hiểm ở Việt Nam trong thời gian tới, bao gồm: (i) Tập trung hoàn thiện khung pháp lý và cơ chế, chính sách cho sự phát triển của thị trường vốn đầu tư mạo hiểm, trong đó hoàn thiện hành lang pháp lý để khuyến khích chính khu vực tư nhân tham gia đầu tư vào khởi nghiệp sáng tạo; (ii) Xây dựng và hoàn thiện khung pháp lý và chính sách về thành lập, vận hành cơ sở ươm tạo; (iii) Triển khai có hiệu quả các cơ chế tài chính, chính sách thuế đặc thù; (iv) Hoàn thiện hệ thống kế toán phù hợp với các chuẩn mực quốc tế… Đồng thời, phát triển các yếu tố nền tảng thúc đầy phát triển thị trường vốn đầu tư mạo hiểm như: (i) Phát triển các vườn ươm doanh nghiệp chất lượng; (ii) Phát triển các nhà đầu tư thiên thần; (iii) Phát triển các trung gian tài chính nhằm đa dạng hóa kênh huy động vốn cho doanh nghiệp khởi nghiệp. Bản thân doanh nghiệp và các hiệp hội doanh nghiệp cũng phải có những thay đổi đúng hướng, phù hợp với bối cảnh và tình hình mới. Và để các giải pháp đạt được hiểu quả cao nhất thì cần lựa chọn lộ trình phù hợp, song song với các biện pháp tăng cường bảo đảm ổn định các cân đối vĩ mô và kiểm soát lạm phát ở mức hợp lý. Thực hiện quyết liệt, có hiệu quả các giải pháp về hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng XHCN, cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia. Đẩy mạnh tái cơ cấu và chuyển đổi mô hình tăng trưởng. Thúc đẩy hỗ trợ phát triển thị trường tài chính, chứng khoán, bảo hiểm.../.

 

Bình chọn

Điểm bình chọn
0 / 5
Tổng 0 lượt bình chọn
5
0%
4
0%
3
0%
2
0%
1
0%