Tác động của suy giảm tăng trưởng kinh tế Trung Quốc đến Việt Nam và những vấn đề đặt ra đối với chính sách tài chính

Tác động của suy giảm tăng trưởng kinh tế Trung Quốc đến Việt Nam và những vấn đề đặt ra đối với chính sách tài chính 01/04/2022 17:39:00 464

Cỡ chữ:A- A+
Tương phản:Giảm Tăng

Tác động của suy giảm tăng trưởng kinh tế Trung Quốc đến Việt Nam và những vấn đề đặt ra đối với chính sách tài chính

01/04/2022 17:39:00

 

- Đơn vị chủ trì: Ban Tài chính quốc tế và Chính sách hội nhập

- Chủ nhiệm nhiệm vụ: ThS. Nguyễn Thị Phương Thúy

- Năm giao nhiệm vụ: 2020/Mã số: 2020-24

 

1. Tính cấp thiết của vấn đề nghiên cứu

Kinh tế của Trung Quốc trong những năm gần đây phải đối mặt với nhiều khó khăn, tốc độ tăng trưởng chậm lại. Năm 2019, GDP Trung Quốc tiếp tục giảm tốc, chỉ đạt 6,1% so với cùng kỳ năm trước, mức thấp nhất trong gần 30 năm qua. Nguyên nhân bắt nguồn từ cả yếu tố nội tại bên trong (quá trình chuyển đổi mô hình tăng trưởng và cải cách kinh tế; nợ gia tăng; già hóa dân số nhanh, tỷ lệ sinh giảm làm cho lực lượng lao động giảm sút…) và yếu tố bên ngoài (chính sách tăng lãi suất của FED, kinh tế thế giới tăng trưởng chậm lại, cuộc chiến thương mại với Hoa Kỳ…). Ngoài ra, tác động từ dịch Covid-19 đã và đang gây ra nhiều ảnh hưởng nghiêm trọng đến kinh tế Trung Quốc. Trung Quốc là nền kinh tế lớn thứ hai trên thế giới, đóng góp trung bình 30% vào tăng trưởng kinh tế thế giới; đồng thời cũng là quốc gia nhập khẩu lớn nhất trên thế giới và có nguồn đầu tư trực tiếp nước ngoài lớn nhất, có mối liên hệ lớn về thương mại và tài chính với nhiều nền kinh tế. IMF (tháng 02/2019) đã đưa ra cảnh báo về nguy cơ xuất hiện cơn bão kinh tế toàn cầu, với nhận định về việc “04 đám mây đen lớn” sẽ làm suy yếu tăng trưởng kinh tế thế giới, trong đó nhấn mạnh đến tác động của việc kinh tế Trung Quốc giảm tốc.

Đối với Việt Nam, ngoài việc là nước “láng giềng” có chung đường biên giới, Trung Quốc vẫn luôn là đối tác thương mai và đầu tư hàng đầu của Việt Nam. Xuất phát từ thực tiễn về quan hệ hợp tác giữa hai nước và vai trò của Trung Quốc đối với kinh tế Việt Nam, việc nghiên cứu tác động của suy giảm tăng trưởng kinh tế Trung Quốc, xác định những vấn đề đặt ra đối với kinh tế - tài chính Việt Nam và đưa ra những gợi ý chính sách nhằm chủ động ứng phó với sự suy giảm tăng trưởng kinh tế Trung Quốc trong thời gian tới là rất cần thiết. Chính vì vậy, chủ đề “Tác động của suy giảm tăng trưởng kinh tế Trung Quốc đến Việt Nam và những vấn đề đặt ra đối với chính sách tài chính” được thực hiện nghiên cứu lựa chọn để nghiên cứu nhằm đưa ra các đề xuất hỗ trợ quá trình xây dựng và hoàn thiện các chính sách của Việt Nam trong thời gian tới.

2. Mục tiêu nghiên cứu

Nghiên cứu tác động suy giảm tăng trưởng kinh tế của Trung Quốc đến Việt Nam, xác định những vấn đề đặt ra về chính sách nhằm đề xuất khuyến nghị chính sách ứng phó với suy giảm tăng trưởng kinh tế Trung Quốc trong thời gian tới.

3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu: Sự suy giảm tăng trưởng kinh tế Trung Quốc và các tác động của sự suy giảm này đến kinh tế thế giới và kinh tế Việt Nam.

Phạm vi nghiên cứu: Đề tài tập trung nghiên cứu các tác động của suy giảm tăng trưởng kinh tế Trung Quốc đến Việt Nam thông qua kênh thương mại và đầu tư (bao gồm cả FDI và ODA). Đề tài xem xét đánh giá trong giai đoạn 2011 - 2020 và dự báo cho giai đoạn tiếp theo.

4. Kết quả nghiên cứu

(1) Đề tài đã khái quát được một số vấn đề cơ bản về suy giảm tăng trưởng kinh tế Trung Quốc. Trong bối cảnh kinh tế - xã hội - chính trị Trung Quốc giai đoạn 2012 - 2017, kinh tế Trung Quốc xác định bối cảnh mới với nhiều khó khăn thách thức. Đường lối, tư duy phát triển kinh tế có nhiều thay đổi, chuyển từ giai đoạn tăng trưởng cao sang giai đoạn phát triển chất lượng cao, trong đó ưu tiên đẩy mạnh sáng tạo, cải thiện cấu trúc công nghiệp quốc gia và tăng tiêu dùng nội địa. Cùng với đó, Chiến tranh thương mại Hoa Kỳ - Trung Quốc đã trải qua 12 vòng đàm phán, căng thẳng thương mại giữa hai nước vẫn chưa có hồi kết. Ngoài ra, đại dịch Covid-19 đã làm cho hầu hết các hoạt động sản xuất, kinh doanh phải đóng cửa, thực hiện giãn cách; các quốc gia hạn chế xuất nhập cảnh, xuất - nhập khẩu… điều này đã tác động tiêu cực đến hoạt động kinh tế - xã hội các quốc gia trên toàn thế giới, bao gồm cả Trung Quốc. Đề tài đã chỉ ra được những nguyên nhân suy giảm tăng trưởng kinh tế Trung Quốc. Nguyên nhân bên trong bao gồm quá trình chuyển đổi mô hình tăng trưởng, cơ cấu lại nền kinh tế, nợ tăng nhanh do sử dụng vốn kém hiệu quả, ưu tiên phân bổ tín dụng và các nguồn lực khác cho các công ty nhà nước yếu kém hơn, tình trạng già hóa dân số và dư thừa năng lực trong một số lĩnh vực. Nguyên nhân bên ngoài là do việc bình thường hóa chính sách tiền tệ của Cục Dự trữ Liên bang Hoa Kỳ (FED), kinh tế thế giới tăng trưởng chậm lại, cuộc chiến thương mại với Hoa Kỳ, hay tác động của đại dịch Covid-19…

(2) Đề tài đã phân tích quan hệ song phương về kinh tế - tài chính giữa Trung Quốc và Việt Nam, những tác động qua lại thông qua hai kênh thương mại và đầu tư. Về thương mại, kim ngạch xuất - nhập khẩu giữ hai nước liên tục tăng, Trung Quốc vẫn giữ vững vị trí là đối tác thương hàng đầu của Việt Nam và Việt Nam cũng là một trong những đối tác thương mại quan trọng của Trung Quốc trong khối ASEAN. Việc kinh tế Trung Quốc giảm tốc sẽ tác động đến kinh tế Việt Nam theo cả mặt tích cực và tiêu cực, cũng như đặt ra một số vấn đề đối với kinh tế Việt Nam. Những tác động tích cực bao gồm: giúp giảm chi phí đầu vào sản xuất; xuất khẩu có thể được hưởng lợi do các doanh nghiệp Hoa Kỳ luôn áp dụng chính sách nhập khẩu Trung Quốc + 1 và khi Trung Quốc gặp khó khăn, Việt Nam có thể thay thế vị trí này; chuyển dịch dòng vốn FDI vào Việt Nam. Những tác động tiêu cực bao gồm: hàng hóa Việt Nam chịu sự cạnh tranh của hàng hóa Trung Quốc, tăng áp lực nhập siêu; đồng NDT giảm giá tạo đà cho hàng hóa Trung Quốc vào Việt Nam dễ dàng hơn, tăng áp lực cạnh tranh cho những doanh nghiệp nội địa đang sản xuất cùng mặt hàng và cán cân thương mại sẽ ảnh hưởng ngay trong ngắn hạn; nhu cầu thị trường giảm do kinh tế Trung Quốc sụt giảm làm cho cầu nhập khẩu hàng hóa vào Trung Quốc giảm.

(3) Từ những phân tích, đánh giá về các động của việc suy giảm tăng trưởng kinh tế của Trung Quốc, đề tài đã chỉ ra dược những vấn đề đối với chính sách tài chính, cụ thể là: (i) Gian lận xuất xứ hàng hóa, xuất hiện hành vi giả mạo xuất xứ, gian lận C/O, trung chuyển hàng hóa bất hợp pháp, gây thiệt hại cho người tiêu dùng, dẫn đến nguy cơ hàng hóa xuất khẩu của Việt Nam bị các nước điều tra, áp thuế chống bán phá giá, thuế tự vệ, thuế trợ cấp ở mức cao; (ii) Hàng của Trung Quốc có mẫu mã phong phú, đa dạng, giá thấp hơn hàng Việt Nam cùng loại. Do đó, sản xuất trong nước đã và đang đối mặt với sự cạnh tranh quyết liệt để giữ thị phần ngay trên chính sân nhà, khi mà hàng hóa từ Trung Quốc tràn sang. Bên cạnh đó, FDI đăng ký tại Việt Nam từ nhà đầu tư Trung Quốc tăng nhanh đáng kể về số dự án nhưng lại giảm về vốn đăng ký bình quân một dự án thể hiện công nghệ dự án lạc hậu, giá rẻ, tiềm ẩn nguy cơ gây ô nhiễm môi trường. Việt Nam đang là điểm “chung chuyển” hàng hóa xuất khẩu của Trung Quốc. Ngoài ra, nguyên vật liệu của rất nhiều ngành xuất khẩu lớn trong nước được nhập từ Trung Quốc, do đó không đảm bảo quy tắc xuất xứ thuần túy, xuất xứ nội khối, xuất xứ một phần. Khi đồng NDT phá giá, trong khi đồng USD có xu hướng tăng lên sẽ tác động đến kinh tế Việt Nam thông qua kênh thương mại, đầu tư… qua đó sẽ gây áp lực lên tỷ giá của đồng Việt Nam với các ngoại tệ, ảnh hưởng không nhỏ đến việc kiểm soát lạm phát, thị trường chứng khoán, dự trữ ngoại hối và ổn định kinh tế vĩ mô của Việt Nam.

(4) Đề tài đã đề xuất 03 nhóm giải pháp chính sách cho Việt Nam nhằm ứng phó với suy giảm tăng trưởng kinh tế Trung Quốc trong thời gian tới.

(I) Nhóm giải pháp về ổn định kinh tế vĩ mô: Cần tiếp tục hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường, hệ thống pháp luật theo hướng tạo môi trường đầu tư, kinh doanh thuận lợi cho đầu tư trong nước và nước ngoài. Chính sách tiền tệ cần được điều hành linh hoạt để giúp thị trường tỷ giá, tín dụng hoạt động ổn định, kết hợp hài hòa với chính sách tài khóa. Bên cạnh đó, cần tăng cường sự ổn định chính trị, bảo đảm an ninh, trật tự, an toàn xã hội. Cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh, khẳng định vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế.

(ii) Nhóm giải pháp về thương mại: Tăng cường công tác kiểm tra, kiểm soát việc hàng Trung Quốc giả mạo xuất xứ hàng Việt Nam thâm nhập vào thị trường Hoa Kỳ; giảm sự phụ thuộc vào một vài thị trường, đẩy mạnh đa phương hóa và tìm kiếm thị trường mới, đồng thời cơ cấu lại và đa dạng hóa thị trường xuất - nhập khẩu; đẩy mạnh xúc tiến thương mại, đa dạng hóa danh mục hàng xuất khẩu sang Trung Quốc và đăng ký b ản quyền thương hiệu sản phẩm trong nước; tích cực và chủ động tham gia vào mạng lưới sản xuất và chuỗi giá trị toàn cầu; đẩy phát triển công nghiệp hỗ trợ.

(iii) Nhóm giải pháp về đầu tư: Hoàn thiện thể chế chính sách để tăng cường thu hút đầu tư nước ngoài, đón nhận làn sóng dịch chuyển đầu tư từ Trung Quốc; tạo môi trường đầu tư kinh doanh thuận lợi, đáp ứng yêu cầu phát triển của nền kinh tế số; rà soát, sàng lọc kỹ để loại bỏ những dự án công nghệ thấp, ảnh hưởng đến môi trường, chất lượng sản phẩm kém... đổ vào Việt Nam; xây dựng kế hoạch và quy hoạch thu hút vốn FDI theo ngành, lĩnh vực, đối tác phù hợp với lợi thế của từng vùng, ngành để phát huy hiệu quả đầu tư; nâng cao năng lực thẩm định dự án đầu tư FDI.

Bình chọn

Điểm bình chọn
0 / 5
Tổng 0 lượt bình chọn
5
0%
4
0%
3
0%
2
0%
1
0%