Phát triển bền vững nguồn thu ngân sách nhà nước trong điều kiện mới ở Việt Nam

Phát triển bền vững nguồn thu ngân sách nhà nước trong điều kiện mới ở Việt Nam 25/03/2022 16:52:00 1140

Cỡ chữ:A- A+
Tương phản:Giảm Tăng

Phát triển bền vững nguồn thu ngân sách nhà nước trong điều kiện mới ở Việt Nam

25/03/2022 16:52:00

- Đơn vị chủ trì: Viện Chiến lược và Chính sách tài chính

- Chủ nhiệm nhiệm vụ: ThS. Trương Bá Tuấn và ThS. Nguyễn Hữu Tuấn

- Năm giao nhiệm vụ: 2020/Mã số: 2020-03-Đ4

 

1. Tính cấp thiết của vấn đề nghiên cứu

Phát triển bền vững nguồn thu ngân sách được xem là nhân tố quan trọng để đảm bảo sự ổn định, an toàn của nền tài chính công. Thực tiễn ở một số quốc gia giai đoạn vừa qua cho thấy, bất ổn kinh tế sẽ không tránh khỏi nếu như ngân sách rơi vào tình trạng mất cân đối kéo dài, nợ công gia tăng. Đối với Việt Nam, từ khi thực hiện công cuộc đổi mới kinh tế đến nay, hệ thống chính sách thuế đã có nhiều bước cải cách căn bản và quan trọng. Theo đó, các chính sách thuế về cơ bản đã được hoàn thiện theo hướng mở rộng đối tượng chịu thuế, thu gọn số lượng thuế suất và từng bước giảm dần mức thuế suất, đơn giản hóa phương thức tính thuế. Có thể thấy, đến nay Việt Nam đã hình thành được một hệ thống chính sách thu ngân sách khá toàn diện, cơ bản phù hợp với cấu trúc một hệ thống động viên ngân sách của một quốc gia đang trong quá trình chuyển đổi. Nhờ đó, mức độ động viên ngân sách nhà nước (NSNN) từng bước được mở rộng, cơ cấu động viên NSNN bền vững hơn.

Thực tế thời gian qua Việt Nam đã được mục tiêu thu ngân sách giai đoạn 2016 - 2020 là 23,5% GDP, trong đó thu từ thuế, phí khoảng 21% GDP khi tỷ lệ huy động vào ngân sách giai đoạn 2011-2020 bình quân khoảng 24,5% GDP, trong đó thu từ thuế, phí giai đoạn 2011 - 2020 bình quân 20,7% GDP. Tuy nhiên, xét trong dài hạn, hệ thống thu NSNN hiện nay còn chưa thực sự bền vững. Để phát triển bền vững nguồn thu NSNN, quy mô thu ngân sách phải được duy trì ở mức hợp lý, phù hợp với trình độ phát triển của kinh tế - xã hội (KT-XH) ở mỗi quốc gia trong từng thời kỳ, đảm bảo hỗ trợ thúc đẩy tăng trưởng, trong đó, cần phải đặc biệt coi trọng đến yêu cầu nuôi dưỡng nguồn thu. Mặc dù vậy, thời gian qua, quy mô động viên NSNN ở mức nào là hợp lý, đảm bảo nuôi dưỡng, phát triển bền vững nguồn thu là vấn đề còn nhiều tranh luận cả về lý luận và thực tiễn.

n cạnh đó, bối cảnh KT-XH giai đoạn tới cũng đang đặt ra nhiều yêu cầu mới cho Việt Nam trong việc phát triển bền vững nguồn thu ngân sách. Cùng với đó, sự xuất hiện của các mô hình kinh tế mới, các hoạt động thương mại điện tử đang tiềm ẩn nhiều nguy cơ gây xói mòn nguồn thu NSNN. Ảnh hưởng của dịch bệnh Covid-19 dự báo sẽ tiếp tục gây ra nhiều hệ lụy tiêu cực cho NSNN trên cả giác độ thu và chi NSNN trong những năm tới đây. Thu NSNN giảm nhưng áp lực chi NSNN cho các nhu cầu phòng, chống dịch bệnh, đảm bảo an sinh xã hội và khôi phục kinh tế sau dịch bệnh đang có xu hướng tăng cao, dẫn đến bội chi NSNN và nợ công tăng. Điều này, đòi hỏi Việt Nam cần phải chủ động có các giải pháp để từng bước củng cố quy mô thu NSNN sau dịch bệnh để đảm bảo an ninh, an toàn tài chính công. Do vậy, việc thực hiện nghiên cứu đề tài với chủ đề “Phát triển bền vững nguồn thu ngân sách nhà nước trong điều kiện mới ở Việt Nam” nhằm cung cấp thêm các luận cứ (cả lý luận và thực tiễn) trong việc đề xuất các định hướng nhằm phát triển bền vững nguồn thu NSNN trong giai đoạn tới.

2. Mục tiêu nghiên cứu

Mục tiêu nghiên cứu của Đề tài là đánh giá thực trạng phát triển bền vững nguồn thu NSNN ở Việt Nam thời gian qua, từ đó đề xuất các giải pháp nhằm phát triển bền vững nguồn thu ngân sách ở Việt Nam, đảm bảo phù hợp với bối cảnh KT-XH trong nước và quốc tế thời gian tới.

3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là thu NSNN và phát triển bền vững nguồn thu NSNN.

Phạm vi nghiên cứu của Đề tài tập trung chủ yếu vào chính sách thu NSNN của Việt Nam, trong đó có các chính sách thuế trong hệ thống thuế của Việt Nam trong khoảng thời gian là giai đoạn 2011 - 2020, trong đó có một số nội dung được mở rộng cho giai đoạn 2001 - 2020.

4. Kết quả nghiên cứu

(1) Đề tài đã chỉ ra một số vấn đề tổng quan về phát triển bền vững nguồn thu NSNN như khái niệm phát triển bền vững nguồn thu ngân sách; yêu cầu đối với việc cải cách chính sách thuế nhằm phát triển bền vững nguồn thu phải đáp ứng các yêu cầu về tài khóa, về kinh tế và điều tiết tiêu dùng, về chính trị xã hội và những yêu cầu liên quan đến cải cách quản lý thuế. Đề tài cũng chỉ ra các tiêu chí cơ bản để đánh giá sự phát triển bền vững nguồn thu ngân sách.(2) Đề tài đã nghiên cứu kinh nghiệm quốc tế trong việc phát triển bền vững nguồn thu ngân sách trên thế giới, trong đó phân tích bối cảnh, các nhân tố chi phối đến cải cách chính sách thuế trên thế giới giai đoạn 2011 - 2020, xu hướng cải cách chính sách thuế, xu hướng thay đổi mức độ động viên và cơ cấu thu ngân sách nhà nước, các sáng kiến thuế quốc tế về việc chống xói mòn cơ sở thuế và chuyển lợi nhuận. Qua phân tích, đề tài đã rút ra một số bài học kinh nghiệm cho Việt Nam trong việc phát triển bền vững nguồn thu NSNN gồm: (i) Xu hướng cải cách chung được nhiều nước áp dụng là duy trì mức thuế suất hợp lý và cơ sở tính thuế rộng; (ii) Cần cơ cấu lại các sắc thuế để đảm bảo môi trường trong nước có sự cạnh tranh Bbên cạnh việc tăng mức độ động viên cho ngân sách; (iii) Coi trọng tính hiệu quả, công bằng, đơn giản, minh bạch trong từng sắc thuế cũng như tổng thể hệ thống thuế; (iv) Cải cách thuế cần bao quát được các sắc thuế cấu thành trong hệ thống thuế và nên được tiến hành theo gói chính sách; (v) Đảm bảo hệ thống chính sách thuế phải được tiến hành đồng bộ với cải cách các thể chế liên quan khác, nhất là cải cách về quản lý thuế; (vi) Chủ động tham gia và thực hiện các sáng kiến về hợp tác thuế toàn cầu.

(3) Đề tài đã đánh giá thực trạng việc phát triển bền vững nguồn thu ngân sách ở Việt Nam thông qua việc phân tích quá trình phát triển tư duy, lý luận của Đảng và Nhà nước về nuôi dưỡng, phát triển bền vững nguồn thu NSNN, quá trình cải cách hệ thống chính sách thuế giai đoạn 2011 - 2020 vừa qua và thực trạng quy mô và cơ cấu thu ngân sách nhà nước của Việt Nam giai đoạn 2021 - 2020. Theo đó, quá trình cải cách hệ thống thuế Việt Nam giai đoạn vừa qua đã góp phần quan trọng trong việc tăng cường và củng cố nguồn lực cho NSNN, cơ cấu thu NSNN bền vững hơn. Qua đánh giá thực trạng, đề tài cũng nhận diện những vấn đề đặt ra đối với yêu cầu phát triển bền vững nguồn thu ngân sách nhà nước ở Việt Nam như: (i) Tính bền vững của quy mô thu NSNN đối mặt với nhiều thách thức; (ii) Quy mô thu NSNN vẫn còn dựa đáng kể vào các khoản thu “không tái tạo” nên tính bền vững không cao; (iii) Cơ cấu thu NSNN còn chưa có sự cân đối giữa các khoản thu, một số khoản thu có sự biến động lớn, ảnh hưởng đến yêu cầu đảm bảo tính bền vững của cơ cấu thu; (iv) Các khoản thu thường xuyên từ thuế, phí đã không có sự mở rộng tương xứng với sự mở rộng về quy mô chi thường xuyên và hệ lụy là thặng dư ngân sách thường xuyên đang có xu hướng giảm; (v) Cơ cấu thu của ngân sách trung ương trong tổng thu NSNN giảm; vai trò của sắc thuế địa phương còn hạn chế, thu ngân sách địa phương chưa thực sự bền vững; (vi) Áp lực của việc thực hiện các chính sách nhằm hỗ trợ cho nền kinh tế do ảnh hưởng của dịch bệnh Covid-19 dự báo cũng sẽ có những ảnh hưởng lớn đến thu NSNN những năm tới đây; (vii) Hệ thống pháp luật về thuế và quản lý thuế còn phức tạp, tính ổn định chưa cao, nhiều quy định còn chưa thực sự rõ ràng gây khó khăn cho quá trình thực hiện.

(4) Trên cơ sở phân tích bối cảnh KT-XH và ngoài nước, những vấn đề đặt ra đối với việc phát triển bền vững nguồn thu ngân sách nhà nước trong 10 năm tới đề tài đã đề xuất những giải pháp phát triển bền vững nguồn thu ngân sách nhà nước như: (i) Tiếp tục đẩy mạnh quá trình cơ cấu lại nền kinh tế, duy trì các nền tảng kinh tế vĩ mô ổn định để hỗ trợ hiệu quả cho tăng trưởng kinh tế, tạo tiền đề đảm bảo tính bền vững của thu ngân sách nhà nước, trong đó trước mặt tập trung khôi phục lại sản xuất sau ảnh hưởng của dịch bệnh Covid-19; (ii) Đẩy mạnh cải cách hệ thống chính sách thuế gắn với cơ cấu lại thu NSNN theo hướng bao quát các nguồn thu, mở rộng cơ sở thu, nhất là các nguồn thu mới, phù hợp với thực tiễn và các cam kết hội nhập và các thông lệ quốc tế; (iii) Rà soát, điều chỉnh và thu hẹp hệ thống chính sách ưu đãi về thuế, đất đai; (iv) Hoàn thiện hệ thống chính sách thu từ đất đai, bao gồm các chính sách thuế, phí, chính sách thu từ tiền sử dụng đất, tiền cho thuê đất; (v) Chủ động có các biện pháp để thống kê, quản lý khu vực kinh tế ngầm, kinh tế phi chính thức để mở rộng cơ sở thuế theo hướng bền vững, chống xói mòn nguồn thu; (vi) Nâng cao hiệu quả, hiệu lực công tác quản lý thuế gắn với việc tăng cường dụng các thành quả của sự phát triển về khoa học công nghệ và công nghệ thông tin; (vii) Tăng cường hiệu quả hợp tác quốc tế về thuế, nhất là trong việc chia sẻ các thông tin về chính sách ưu đãi thuế và về các hiệp định thuế.

 

Bình chọn

Điểm bình chọn
0 / 5
Tổng 0 lượt bình chọn
5
0%
4
0%
3
0%
2
0%
1
0%