Lựa chọn mô hình và đánh giá tác động của chính sách thuế đối với kinh tế xã hội

Lựa chọn mô hình và đánh giá tác động của chính sách thuế đối với kinh tế xã hội 11/12/2020 11:05:00 4131

Cỡ chữ:A- A+
Tương phản:Giảm Tăng

Lựa chọn mô hình và đánh giá tác động của chính sách thuế đối với kinh tế xã hội

11/12/2020 11:05:00

- Đơn vị chủ trì: Trường Đại học Tài chính - Marketing

- Chủ nhiệm nhiệm vụ: PGS.TS. Nguyễn Thị Mỹ Linh và TS. Phan Thị Hằng Nga

- Năm giao nhiệm vụ: 2018/Mã số: 2018-15

1. Tính cấp thiết của vấn đề nghiên cứu

Chính sách thuế là một trong những chính sách kinh tế vĩ mô quan trọng nhất đối với mỗi quốc gia. Chính sách thuế không chỉ đem lại nguồn thu chính cho ngân sách nhà nước mà thông qua đó Nhà nước có thể điều tiết các hoạt động của nền kinh tế, nâng cao phúc lợi xã hội và hỗ trợ tăng trưởng kinh tế. Hiệu quả của chính sách thuế mang lại đối với từng quốc gia có sự khác nhau, phụ thuộc vào những yếu tố cũng như nội dung của chính sách thuế của chính quốc gia đó. Từ năm 2011 đến nay, nhằm thực hiện chủ trương cơ cấu lại nền kinh tế gắn với đổi mới mô hình tăng trưởng, yêu cầu cơ cấu lại ngân sách nhà nước đã được Chính phủ ưu tiên thực hiện với mục đích tăng cường hiệu quả của các hoạt động ngân sách nhà nước nói chung và chính sách thuế nói riêng. Do vậy, việc lựa chọn mô hình để đánh giá tác động của chính sách thuế đối với kinh tế xã hội, trên cơ sở đó đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện chính sách thuế có ý nghĩa quan trọng đối với ngành Tài chính.

2. Mục tiêu nghiên cứu

Mục tiêu tổng quát: Nghiên cứu đánh giá tác động của chính sách thuế đối với kinh tế - xã hội tại Việt Nam, cụ thể: (i) Phân tích thực trạng của chính sách thuế và phân tích tác động của chính sách thuế đến phát triển kinh tế - xã hội tại Việt Nam; (ii) Lựa chọn, xây dựng và kiểm định mô hình đánh giá sự tác động của chính sách thuế đến kinh tế- xã hội tại Việt Nam; (iii) Đề xuất giải pháp - kiến nghị hoàn thiện chính sách thuế góp phần phát triển kinh tế - xã hội tại Việt Nam.

3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu: Chính sách thuế tại Việt Nam và đánh giá tác động của chính sách thuế đối với kinh tế - xã hội tại Việt Nam;

Phạm vi nghiên cứu: Đề tài nghiên cứu chính sách thuế tại Việt Nam và đánh giá tác động của chính sách thuế đối với kinh tế - xã hội tại Việt Nam trong giai đoạn 2007 - 2017.

4. Kết quả nghiên cứu

(1) Đề tài đã hệ thống hóa các cơ sở luận của chính sách thuế như về khái niệm, mục tiêu, vai trò của chính sách thuế, phương pháp đánh giá hiệu quả của chính sách thuế và việc lựa chọn mô hình để đánh giá tác động của chính thuế đến kinh tế xã hội. Theo đó, các mô hình nghiên cứu được lựa chọn nhằm phục vụ các mục tiêu nghiên cứu khác nhau và tùy thuộc vào mối quan tâm và bối cảnh nghiên cứu của quốc gia đó. Các nghiên cứu tại Việt Nam thường gặp vấn đề hạn chế trong dữ liệu nghiên cứu do nền kinh tế mới chỉ mở cửa chưa được 30 năm và các dữ liệu thống kê chưa được chuẩn hóa theo thông lệ quốc tế từ đó gây khó khăn cho quá trình phân tích, so sánh với nghiên cứu thực hiện tại các quốc gia khác. Vì vậy, ngoài việc đáp ứng mục tiêu nghiên cứu, mô hình nghiên cứu chỉ có thể sử dụng được khi có dữ liệu phù hợp với mô hình.

(2) Đề tài tiếp cận đo lường tác động của chính sách thuế đến kinh tế xã hội trên nhiều mặt và khía cạnh cụ thể:

(i) Đánh giá tác động của chính sách thuế đến giá cả hàng hóa và dịch vụ và kết quả nghiên cứu giai đoạn 2007 - 2017: Thuế tiêu dùng đã làm tăng giá cả hàng hóa và có độ trễ nhất định, cụ thể thuế đã góp phần làm tăng giá cả hàng hóa trong giai đoạn phân tích từ 2007-2017. Nghiên cứu cho thấy, tốc độ tăng thu thuế tiêu dùng tăng ở năm nào thì chỉ số giá cả năm đó cũng tăng và ngược lại. Tác động của thuế tiêu dùng lên giá cả hàng hóa có độ trễ nhất định, nhưng sau năm 2012 thì sự tác động của thuế tiêu dùng lên giá cả hàng hóa nhanh hơn đặc biệt là năm 2015 thuế tiêu dùng tăng là giá cả hàng hóa tăng ngay sau đó;

(ii) Đánh giá tác động của chính sách thuế đến hoạt động nhập khẩu: Chính sách thuế được điều chỉnh để phù hợp với chính sách thương mại quốc tế. Khi Việt Nam gia nhập WTO, chính sách thuế phải điều chỉnh phù hợp với các tiêu chí, tiêu chuẩn hoạt động của tổ chức này, điển hình là sự thay đổi lớn của thuế nhập khẩu điều chỉnh thuế suất 0% tiến đến không phân biệt hàng nhập khẩu và hàng sản xuất trong nước;

(iii) Đánh giá tác động của chính sách thuế đến tiền lương: Trong giai đoạn 2007 - 2017 như đã phân tích ở mục trên cho thấy, thuế tiêu dùng đã góp phần làm tăng giá cả hàng hóa dịch vụ, do đó sẽ làm giảm thu nhập của người sản xuất cộng thêm thuế thu nhập doanh nghiệp mà các doanh nghiệp phải nộp sẽ làm tăng thêm chi phí, do đó sẽ ảnh hưởng đến chi phí tiền lương của người lao động;

(iv) Đánh giá tác động của chính sách thuế đến thu nhập cá nhân: Tác động của chính sách thuế đến thu nhập cá nhân chính là thuế suất lũy tiến từng phần. Cơ chế thuế lũy tiến là cơ chế mà trong đó tỷ suất thuế bình quân (là số phần trăm của tổng thu nhập) tăng cùng với mức thu nhập của cá nhân;

(v) Đánh giá tác động của chính sách thuế đến thương mại quốc tế: Thuế xuất khẩu, nhập khẩu đã làm tăng giá trị nhập khẩu và điều này phù hợp với tình hình thực tiễn Việt Nam. Theo cam kết với Tổ chức thương mai quốc tế (WTO), Việt Nam phải cắt giảm thuế suất thuế nhập khẩu xuống 0%, do đó đã khuyến khích doanh nghiệp nhập khẩu trong thời gian gần đây. Nhà nước phải điều chỉnh hoạt động xuất khẩu. nhập khẩu hàng hóa và bảo hộ sản xuất trong nước bằng nhiều giải pháp khác như điều chỉnh hạn ngạch nhập khẩu, tài trợ xuất khẩu, thu chênh lệch giá nhập khẩu, dùng bảng giá tối thiểu để áp giá hàng nhập nhập khẩu;

(vi) Đánh giá tác động của chính sách thuế đến đầu tư toàn xã hội: Thuế có tác động cùng chiều với vốn đầu tư toàn xã hội; chính sách thuế của Việt Nam đã khuyến khích và thu hút được các nguồn vốn trong xã hội gia tăng qua các năm;

(vii) Đánh giá tác động của chính sách thuế đến thu hút nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI): Trong giai đoạn 2007 - 2017 thuế có tác động cùng chiều với nguồn vốn FDI thực hiện; chính sách thuế đã thu hút được nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt Nam. Mức tác động của thuế cùng chiều với nguồn vốn FDI nhưng là tác động gián tiếp. Do đó, cần rà soát chính sách thuế để có tác động tích cực hơn cho việc thu hút nguồn vốn FDI trong thời gian qua;

(viii) Đánh giá tác động của chính sách thuế đối với xã hội. Thuế làm tăng tỷ lệ thất nghiệp trong giai đoạn 2001 - 2006 và 2014 - 2017; tuy nhiên thuế đã kìm chế được tỷ lệ thất nghiệp trong giai đoạn 2007 - 2013. Khi tăng thuế, lợi ích của chủ thể bị giảm xuống khiến họ không mở rộng sản xuất kinh doanh, kéo theo nhu cầu lao động giảm, từ đó khiến tỷ lệ thất nghiệp gia tăng.

(3) Đề tài đã kiểm định tác động của chính sách thuế đối với kinh tế - xã hội tại Việt Nam, cụ thể: Kiểm định tác động của chính sách thuế đối với tăng trưởng kinh tế; Kiểm định tác động của cấu trúc thuế đối với tăng trưởng kinh tế; Kiểm định tác động của các thành phần thuế tiêu dùng đối với tăng trưởng kinh tế. Kiểm định sự tác động của chính sách thuế đối với xã hội Việt Nam; Kiểm định tác động của cấu trúc thuế đối với tỷ lệ hộ nghèo.

(4) Dựa vào quan điểm và định hướng về xây dựng chính sách thuế và các tồn tại của các sắc thuế hiện hành, đề tài đề xuất nhóm hai giải pháp:

(i) Nhóm giải pháp hoàn thiện chính sách thuế bao gồm: Điều chỉnh Luật thuế, thay đổi cơ cấu thu thuế theo hướng tăng tỷ trọng thuế thu nhập và thuế tài sản, tăng cơ sở thuế; nuôi dưỡng nguồn thu bền vững; Điều chỉnh Luật thuế giá trị gia tăng (GTGT), cụ thể là bổ sung tiêu chí phân biệt giữa đối tượng không chịu thuế, thuế suất 5%, thuế suất 10% đề phòng chống gian lận, vi phạm, tham nhũng; rà soát đối tượng không chịu thuế GTGT và các mức thuế suất GTGT; Điều chỉnh Luật thuế Tiêu thụ đặc biệt, theo đó tăng mức thuế đối với các mặt hàng có nhiều ngoại ứng tiêu cực với đời sống xã hội, đặc biệt là thuốc lá và rượu, bia; Điều chỉnh Luật thuế bảo vệ môi trường theo hướng bổ sung các hàng hóa chịu thuế chất thải rắn, lỏng, khí nhằm hạn chế ô nhiễm môi trường, đảm bảo phát triển bền vững; nghiên cứu xây dựng khung thuế suất thuế bảo vệ môi trường hợp lý, linh hoạt; giá tính thuế phù hợp; đề nghị bãi bỏ quy định về thời điểm tính thuế riêng biệt đối với sản phẩm xăng dầu để áp dụng chung như các sản phẩm khác; Điều chỉnh Luật thuế Thu nhập doanh nghiệp cụ thể ưu đãi cho doanh nghiệp mua nguyên liệu trong nước để sản xuất hàng xuất khẩu; bổ sung phương pháp tính toán số thuế được miễn, số thuế phải nộp và hồ sơ, quy trình cụ thể; Điều chỉnh Luật thuế thu nhập cá nhân theo hướng đề xuất mức chiết trừ gia cảnh theo hệ số nhân với mức lương tối thiểu theo vùng; sửa Luật thuế TNCN còn 5 bậc thuế suất 5%, 10%, 20%, 28% và 35%; Nghiên cứu xây dựng Luật thuế tài sản thống nhất cả căn cứ tính thuế cũng như thuế suất nhằm thuận lợi cho việc so sánh, phân tích, đánh giá và thiết kế thuế suất; đồng thời lại đơn giản và tiết kiệm chi phí trong quá trình hành thu, khắc phục được tâm lý phải nộp nhiều loại thuế của người dân.

(ii) Nhóm giải pháp về khung khổ pháp lý: Điều chỉnh quy trình quản lý thuế; tăng cường quản lý đối với tất cả các đối tượng chịu thuế của các sắc thuế; tăng cường công tác tuyên truyền, giáo dục và cung cấp dịch vụ hỗ trợ người nộp thuế để nâng cao tính tự giác tuân thủ và trách nhiệm của người nộp thuế./.