Phát triển cân bằng thị trường tài chính và những vấn đề đặt ra với Việt Nam

Phát triển cân bằng thị trường tài chính và những vấn đề đặt ra với Việt Nam 11/12/2020 09:44:00 2571

Cỡ chữ:A- A+
Tương phản:Giảm Tăng

Phát triển cân bằng thị trường tài chính và những vấn đề đặt ra với Việt Nam

11/12/2020 09:44:00

- Đơn vị chủ trì: Ban Phát triển thị trường tài chính, Viện Chiến lược và Chính sách tài chính

- Chủ nhiệm nhiệm vụ: ThS. Vương Duy Lâm

- Năm giao nhiệm vụ: 2019/ Mã số: 2019-29

1. Tính cấp thiết của vấn đề nghiên cứu

Cấu trúc tài chính của mỗi quốc gia được phân thành hai loại cơ bản, gồm hệ thống tài chính dựa vào thị trường và hệ thống tài chính dựa vào ngân hàng. Trong hệ thống tài chính dựa vào thị trường, thị trường chứng khoán (TTCK) có vai trò tích cực trong việc tài trợ vốn và cung cấp các công cụ quản lý rủi ro cho các chủ thể kinh tế. Với hệ thống tài chính dựa vào ngân hàng, các ngân hàng đóng vài trò chủ đạo trong việc huy động và phân bổ các nguồn vốn trong nền kinh tế. Nhìn chung, hai cấu trúc tài chính dựa vào ngân hàng hay thị trường đều có ưu và nhược điểm riêng, sự phù hợp của từng cấu trúc phụ thuộc vào bối cảnh, lịch sử của mỗi quốc gia.

Tại bất kỳ quốc gia nào, chính sách của Nhà nước ưu tiên phát triển khu vực này sẽ ảnh hưởng tới sự phát triển của khu vực khác và ngược lại. Chẳng hạn như, đối với các nước có những chính sách hạn chế thông tin và đánh thuế chồng chéo lên cổ tức thì chắc chắn sẽ cản trở tới sự phát triển của TTCK và tạo điều kiện cho hình thức vay vốn phát triển; ngược lại, với những chính sách quy định hạn chế hoạt động với hệ thống ngân hàng thì sẽ kích thích những hoạt động từ TTCK, từ đó thúc đẩy sự phát triển của TTCK.

Ở Việt Nam, hệ thống ngân hàng thương mại (ngân hàng thương mại) vẫn được sử dụng làm cấu trúc chủ đạo, nguồn vốn cung cấp chủ yếu đến từ các ngân hàng và phát triển rất nhanh trong khoảng 10 năm trở lại đây, từ việc vay vốn đơn giản từ người thân, gia đình, bạn bè, chuyển sang vay vốn từ các ngân hàng thương mại, dẫn đến tín dụng tăng trưởng nhanh và không đi kèm với chất lượng và năng lực quản lý, giảm sát, rủi ro đạo đức… đẩy hệ thống ngân hàng thương mại vào vùng nguy hiểm. Điều này đã đặt ra yêu cầu cần tái cấu trúc toàn diện hệ thống ngân hàng thương mại.

Trong quá trình đổi mới mô hình tăng trưởng và tái cơ cấu nền kinh tế, ngoài nguồn vốn ngân sách nhà nước tại Việt Nam thì nguồn vốn huy động cho các quá trình này từ thị trường tài chính chiếm một tỷ trọng rất đáng kể. Trong đó chủ yếu là vốn vay từ các tổ chức tín dụng (khoảng 130% GDP và chỉ khoảng 50,6% tổng dư nợ là tín dụng dài hạn) và từ TTCK (110% GDP), thị trường bảo hiểm (nguồn đầu tư trở lại nền kinh tế đạt khoảng 5,8% GDP). Việc huy động vốn cho nền kinh tế vẫn chủ yếu dựa vào hệ thống ngân hàng, trong khi huy động vốn thông qua thị trường vốn còn hạn chế, do đó thời gian qua, nền kinh tế phải đối mặt với nhiều rủi ro trước những yếu kém, khuyết tật của hệ thống ngân hàng. Đảng và Nhà nước ta chủ trương phát triển nền kinh tế dựa trên phát triển hài hòa các kênh huy động vốn trên cả thị trường tiền tệ và thị trường vốn với cơ cấu hợp lý, gắn với chủ trương cơ cấu lại nền kinh tế, đổi mới mô hình tăng trưởng. Vì vậy, việc nghiên cứu đề tài “Phát triển cân bằng thị trường tài chính và những vấn đề đặt ra đối với Việt Nam” có ý nghĩa khoa học và thực tiễn cao.

2. Mục tiêu nghiên cứu

Đề tài đưa ra các giải pháp nhằm phát triển cân bằng thị trường tài chính Việt Nam.

3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu: Thị trường tài chính Việt Nam, bao gồm thị trường tiền tệ và TTCK.

Phạm vi nghiên cứu: Đề tài tập trung làm rõ bản chất của thị trường tài chính (bao gồm thị trường tiền tệ và thị trường vốn), sự cân bằng của thị trường tài chính đối với mục tiêu phát triển và ổn định kinh tế, đánh giá cơ cấu và thực trạng thị trường tài chính Việt Nam và đưa ra các khuyến nghị chính sách phát triển nhằm hướng tới cân bằng thị trường tài chính trong những năm kế tiếp. 

4. Kết quả nghiên cứu

Với mục tiêu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu trên, đề tài đã rút ra các kết luận chính như sau:

(1) Đề tài đã hệ thống hóa được khung lý thuyết về cấu trúc của thị trường tài chính. Nhìn chung, cả hai cấu trúc tài chính dựa vào thị trường hay ngân hàng đều có ưu và nhược điểm riêng, cấu trúc nào phù hợp hơn thì tùy thuộc vào quá trình và vị thế kinh tế của mỗi quốc gia, theo đó cấu trúc tài chính dựa vào ngân hàng sẽ phù hợp đối với các quốc gia ở giai đoạn đầu phát triển và có môi trường thể chế chưa hoàn thiện, còn cấu trúc tài chính dựa vào thị trường (dựa trên thị trường vốn) sẽ cần thiết hơn ở quá trình hậu suy thoái nền kinh tế và thời kỳ kinh tế đang phát triển ổn định. Theo đó, có thể hiểu “cân bằng thị trường tài chính” như sau: Thị trường tài chính sẽ phát triển tốt và cân bằng nếu nền kinh tế đang ở trong giai đoạn phát triển ổn định hoặc hậu khủng hoảng, khi cả hệ thống ngân hàng và thị trường vốn phát triển đồng đều và có khả năng hỗ trợ lẫn nhau. Trong giai đoạn đầu đối với các quốc gia kém phát triển, các quốc gia này sẽ cần hệ thống ngân hàng phát triển trước, sau đó mới tạo cơ sở hạ tầng, hành lang pháp lý, tiêu chuẩn quốc tế dành cho việc phát triển thị trường vốn hợp lý và chính xác hơn.

Đề tài đã khái quát được khái niệm về cân bằng thị trường tài chính. Nhìn chung, khi nói về cân bằng thị trường tài chính, cần xác định quốc gia đó đang ở trạng thái nào, đang suy thoái hay đang phát triển ổn định để đưa ra hướng phát triển đồng đều cho cả hai dạng thị trường. Sau đó, sẽ sử dụng các tiêu chí đánh giá về độ sâu và độ phát triển của cả hai cấu phần của thị trường (thị trường tiền tệ và thị trường vốn) để đánh giá chiều sâu của từng thị trường. Nhìn chung, cân bằng trong trường hợp này có thể được hiểu là sự hài hòa giữa hai thị trường sao cho có thể bổ trợ ưu nhược điểm cho nhau trong bối cảnh cụ thể của từng quốc gia.

(2) Đề tài đã tổng hợp và đúc kết kinh nghiệm quốc tế của Đức, Hoa Kỳ, Nhật Bản, là các quốc gia đã trải qua nhiều thời kỳ cho việc phát triển thị trường tài chính, từ sơ khai đến mức độ phát triển bền vững, ổn định. Theo đó, đề tài đã rút ra một số kết luận: (i) Công nghiệp hóa là nguyên nhân quan trọng dẫn đến sự thay đổi trong cơ cấu của hệ thống tài chính; (ii) Đức và Nhật Bản có thị trường tài chính dựa vào ngân hàng, trong khi Hoa Kỳ dựa vào thị trường vốn (TTCK); (iii) Tính tự do, tự chủ là động lực để hệ thống ngân hàng phát triển trước theo hướng mở rộng, sau đó sẽ tiến tới hình thức tập trung. Tuy nhiên, sự tự chủ này cũng dễ dẫn đến sự mất ổn định của nền kinh tế nếu không có sự điều chỉnh theo pháp luật; (iv) Sự “cân bằng” của thị trường tài chính rất khó định nghĩa và trên thực tế không có định nghĩa cụ thể nào về sự cân bằng này. Kinh nghiệm của các quốc gia cho thấy, tùy vào bối cảnh về kinh tế, thể chế, chính trị cũng như mục tiêu tài chính mà mỗi quốc gia có phương án điều chỉnh riêng để cân bằng thị trường tài chính.

(3) Đề tài đã đánh giá về cấu trúc và tính cân bằng của thị trường tài chính Việt Nam trong những năm qua cho thấy, mặc dù thị trường tài chính Việt Nam đã có sự chuyển biến tích cực nhưng thị trường vẫn dựa vào ngân hàng là chủ đạo. Hiện nay, Việt Nam đang phát triển ổn định, cơ sở hạ tầng về ngân hàng khá tốt nên có thể phát triển thị trường tài chính theo 1 trong 2 hướng (dựa vào ngân hàng hoặc dựa vào thị trường) hoặc kết hợp cả hai nhằm đảm bảo độ an toàn, hiệu quả của hệ thống ngân hàng và nâng cao quy mô, độ sâu rộng, tính hiệu quả của thị trường vốn. Theo phương pháp so sánh, quy mô và độ phát triển của thị trường vốn của Việt Nam chỉ xếp thứ ba trong số 6 quốc gia ASEAN, trong đó TTCK còn chưa phát triển về chiều sâu; thị trường bảo hiểm, trái phiếu và đặc biệt là trái phiếu doanh nghiệp, còn kém phát triển so với Malaysia, Thái Lan và Singapore. Về tính hiệu quả của quy mô và cấu trúc, thị trường tiền tệ Việt Nam đang phát triển tốt hơn thị trường vốn (TTCK), tuy nhiên hai thị trường này tương đương về hoạt động, đều đang tái cơ cấu theo đúng lộ trình.

(4) Đề tài đưa ra các nhóm giải pháp nhằm hỗ trợ, phát triển thị trường tài chính Việt Nam theo hướng cân bằng, hiệu quả hơn, bao gồm: (i) Nhóm giải pháp hướng tới phát triển quy mô thị trường vốn: Cần tiếp tục đưa thị trường vốn trở thành kênh huy động vốn phổ biển, chủ đạo cho các doanh nghiệp; tạo sự linh hoạt và chủ động cũng như trao quyền cho nhà đầu tư và thị trường tự định đoạt hoạt động đầu tư; thúc đẩy thị trường trái phiếu doanh nghiệp phát triển, nhằm tạo lập nguồn cung vốn thay thế cho nguồn vốn ngân hàng, cân bằng cấu trúc thị trường tài chính trong nước; đẩy mạnh quá trình hiện đại hóa hệ thống công nghệ thông tin phục vụ thị trường, bảo đảm hệ thống đủ hiện đại, vận hành theo thông lệ quốc tế; nghiên cứu, cải cách các chính sách, bao gồm cả các chính sách thuế, hướng tới tái cấu trúc khu vực tài chính; (ii) Nhóm giải pháp đảm bảo giám sát hệ thống ngân hàng, phòng tránh những rủi ro: Để đảm bảo an toàn hoạt động của khu vực ngân hàng, cần thiết lập các chính sách đảm bảo an toàn và giám sát vi mô cho hoạt động của thị trường ngân hàng; theo dõi rủi ro hệ thống và duy trì tính ổn định của thị trường tài chính; tạo điều kiện để hình thành một số các tổ chức tín dụng lớn, có tiềm lực tài chính và năng lực quản trị rủi ro đủ sức cạnh tranh lành mạnh với các tổ chức tín dụng quốc tế có quy mô vừa trong khu vực; tăng cường khả năng giám sát thận trọng vĩ mô; (iii) Nhóm giải pháp hướng tới phát triển chiều sâu của thị trường vốn: Cần tăng cường sự hội nhập của TTCK Việt Nam với thế giới; nâng cao hiệu quả công tác quản lý và giám sát TTCK; tăng cường giám sát các quỹ đầu tư chứng khoán, đặc biệt là các quỹ đầu tư nước ngoài; cần định hướng phát triển cả thị trường tiền tệ và TTCK, bởi hai thị trường này có mối quan hệ chặt chẽ với nhau; (iv) Nhóm giải pháp hướng tới đổi mới chính sách tài chính nhằm phát triển cân bằng thị trường tài chính: Cần hoàn thiện khuôn khổ pháp lý, cấu trúc lại thị trường tài chính để hoạt động hiệu quả hơn; đổi mới chính sách tài chính nhằm phát triển cân bằng thị trường tài chính. Theo đó cần rà soát, sửa đổi một số quy định về mức phạt trong lĩnh vực chứng khoán, tín dụng, dịch vụ ngân hàng, kinh doanh tiền tệ, bảo hiểm, thanh toán và các dịch vụ có liên quan đến thị trường tài chính theo hướng bao quát được tất cả các hành vi vi phạm.