Cơ cấu lao động theo trình độ nhằm đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế đến năm 2025

Cơ cấu lao động theo trình độ nhằm đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế đến năm 2025 07/05/2020 11:13:00 72182

Cỡ chữ:A- A+
Tương phản:Giảm Tăng

Cơ cấu lao động theo trình độ nhằm đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế đến năm 2025

07/05/2020 11:13:00

Hoàng Thị Minh Hà - Đinh Thị Hảo

Trung tâm Thông tin và Dự báo kinh tế - xã hội Quốc gia,

Bộ Kế hoạch và Đầu tư

Nguồn lực con người được coi là nhân tố đầu vào quan trọng để thực hiện tốt các chính sách phát triển kinh tế - xã hội của Việt Nam. Tuy nhiên, trong những năm qua, thực trạng phát triển thị trường lao động cho thấy nhiều bất cập. Chất lượng lao động vẫn chưa đáp ứng được nhu cầu phát triển kinh tế, năng suất lao động của Việt Nam còn thấp so với nhiều nước trong khu vực. Có nhiều nguyên nhân dẫn đến tình trạng trên, tuy nhiên trong nghiên cứu này, nhóm tác giả tập trung vào một khía cạnh là sự phát triển lệch lạc cơ cấu lao động theo trình độ trong thời gian qua. Điều này đã dẫn đến tình trạng nền kinh tế Việt Nam thiếu trầm trọng đội ngũ công nhân kỹ thuật lành nghề trong khi lại thừa ra lao động có trình độ cao đẳng, đại học trở lên, vừa gây ra tình trạng lãng phí, vừa thiếu hiệu quả. Từ đó, nhóm tác giả dự báo xu hướng chuyển dịch cơ cấu lao động theo bằng cấp đến năm 2025 và đưa ra phương án đổi mới cơ cấu theo hướng hiệu quả hơn.

Từ khóa: Cơ cấu lao động, chất lượng lao động

1. Thực trạng cơ cấu lao động theo bằng cấp ở Việt Nam

Lực lượng lao động của Việt Nam đang không ngừng tăng lên cùng với sự gia tăng của dân số. Tính đến năm 2018, lực lượng này là 55 triệu người, chiếm khoảng 60% dân số. Trung bình mỗi năm, khoảng 500 - 700 nghìn người gia nhập lực lượng lao động. Cùng với sự phát triển kinh tế, ngày càng nhiều việc làm được tạo ra và duy trì được tỷ lệ lao động có việc làm ở mức cao. Tính đến năm 2018, tỷ lệ lao động có việc làm trong tổng lực lượng lao động đạt 98%. Xét về cân đối cung cầu trên thị trường lao động có thể thấy, tỷ lệ thất nghiệp và tỷ lệ thiếu việc làm của Việt Nam là tương đối thấp và có xu hướng giảm. Tỷ lệ thất nghiệp đã giảm liên tục từ 6,4% (năm 2000) xuống 5,3% (năm 2005), 2,24% (năm 2008) và 2,34% (năm 2017), trong khi tỷ lệ thất nghiệp toàn cầu hiện nay lên tới 13%. Riêng khu vực châu Á - Thái Bình Dương, tỷ lệ thất nghiệp là 11%.

Nếu như thất nghiệp và thiếu việc làm chưa phải là vấn đề quá lớn đối với trường hợp Việt Nam thì chất lượng lao động và năng suất lao động đang thực sự là thách thức lớn hiện nay. Nếu tính theo sức mua tương đương (PPP) năm 2011 thì trong giai đoạn 2011 - 2018, tốc độ tăng năng suất lao động của Việt Nam tương đương mức trung bình của các nước Đông Á - Thái Bình Dương (4,8%/năm), cao hơn mức tăng trung bình của các quốc gia có thu nhập trung bình thấp (4%/năm), Singapore (1,4%/năm), Malaysia (2%/năm), Thái Lan (3,2%/năm), Indonesia (3,6%/năm), Philippines (4,4%/năm). Nhưng nếu xét về con số tuyệt đối, năm 2018, năng suất lao động của Việt Nam chỉ đạt 11,1 nghìn USD/lao động (PPP năm 2011), chỉ bằng 7,3% so với Singapore, 18,9% so với Malaysia, 37% so với Thái Lan, 45% so với Indonesia, 56% so với Philippines và 87% so với Lào và 62% so với năng suất lao động trung bình của các nước có thu nhập trung bình thấp1.

Chất lượng lao động bị đánh giá thấp. Trong báo cáo Chỉ số năng lực cạnh tranh toàn cầu (GCI) 4.0 năm 2018, trụ cột 6 đánh giá về kỹ năng của người lao động Việt Nam chỉ đứng vị trí thứ 97/140 quốc gia. Trong đó, trình độ giáo dục của lực lượng lao động đứng vị trí thứ 98; chất lượng đào tạo nghề bị đánh giá thấp, đứng vị trí 115; kỹ năng của học sinh, sinh viên tốt nghiệp là 128; mức độ dễ dàng tìm kiếm lao động lành nghề tại thị trường Việt Nam đứng vị trí 104. Mặc dù số năm học trung bình của Việt Nam đạt 7,6 năm, cao hơn nhiều so với số năm học trung bình của Campuchia là 4,6 năm nhưng các chỉ số kỹ năng của lực lượng lao động Việt Nam chỉ tương đương với nước này và thấp hơn so với các nước trong khu vực. Những con số này đang phản ánh một thực tế rằng, chất lượng nguồn nhân lực của Việt Nam thấp so với thế giới và là yếu tố cản trở đến tăng trưởng kinh tế.

Hình 1. So sánh một số chỉ tiêu kỹ năng của lao động Việt Nam

và một số nước trong khu vực

image

Nguồn: Báo cáo GCI 4.0 năm 2018

Một trong nhiều nguyên nhân dẫn đến tình trạng trên là do chuyển dịch cơ cấu lao động theo trình độ còn bất hợp lý và chất lượng chuyển dịch còn thấp. Cụ thể:

Xét từ phía cung, lao động có trình độ chuyên môn kỹ thuật đã qua đào tạo, có bằng cấp chứng chỉ của Việt Nam có xu hướng tăng lên hằng năm. Nếu như năm 2000, tỷ lệ lao động có bằng cấp, chứng chỉ chỉ chiếm 10,4% trong tổng lực lượng lao động, tương đương với khoảng 3,5 triệu người (trên tổng số 37,3 triệu lao động) thì đến năm 2018 tỷ lệ này đã nâng lên khoảng 22,5%, tương đương khoảng 12,5 triệu (trên tổng số 55,4 triệu lao động). Mặc dù tỷ lệ lao động qua đào tạo đã tăng liên tục trong thời gian qua nhưng xét trong tương quan lực lượng kinh tế và so với các nước trong khu vực khác thì tỷ lệ lao động của nước ta còn quá thấp so với nhu cầu phát triển của nền kinh tế. Đến nay, số lượng lao động đã qua đào tạo chỉ bằng 1/5 tổng lực lượng lao động, chỉ bằng 1/3 các nước và các nền công nghiệp mới như Hàn Quốc, Đài Loan, Singapore, ở nhiều nước tỷ lệ này phổ biến là 50%.

Hình 2. Tỷ lệ lao động theo các trình độ trong tổng lực lượng lao động

Đơn vị: %

image

Nguồn: Tổng cục Thống kê

Xét riêng nhóm lao động có bằng cấp dễ dàng nhận thấy, nhóm lao động qua đào tạo đại học và sau đại học chiếm tỷ lệ lớn nhất và có sự gia tăng nhanh chóng, từ 2,48% (trên tổng lực lượng lao động) năm 2000 đã tăng lên khoảng 10% vào năm 2018, cao hơn so với nhóm lao động ở các trình độ đào tạo khác. Sự gia tăng tỷ lệ lao động qua đào tạo thời gian qua có đến 40% là do sự gia tăng của lao động có trình độ đại học trở lên.

Hình 3. Dịch chuyển cơ cấu lực lượng lao động qua đào tạo theo bằng cấp

ở Việt Nam

image

Nguồn: Tính toán từ số liệu Tổng cục Thống kê, số liệu năm 2018 là số ước

Cơ cấu lao động qua đào tạo có bằng cấp của Việt Nam và chuyển dịch theo hướng ngày càng bất hợp lý hơn. Theo kinh nghiệm quốc tế, tỷ lệ lao động có trình độ bậc trung và sơ cấp phải là nhóm có tỷ lệ cao nhất. Mô hình tiêu chuẩn ở các nước phát triển là 1/4/10 hoặc 1/4/202, trong khi đó, mô hình của Việt Nam hoàn toàn ngược lại. Năm 2000, cơ cấu lao động có bằng cấp của nước ta theo tỷ lệ cao đẳng, đại học trở lên/trung cấp chuyên nghiệp/dạy nghề là 1/1,2/0,9 thì đến năm 2018 tỷ lệ tương ứng là 1/0,3/0,4. Tỷ lệ lao động trung cấp chuyên nghiệp và dạy nghề vốn đã thấp, lại có xu hướng giảm đi trong những năm qua. Việt Nam đang thiếu trầm trọng đội ngũ lao động chuyên môn kỹ thuật có trình độ trung cấp và sơ cấp. Hay nói cách khác, nếu lấy số lượng lao động trình độ sơ cấp/dạy nghề hiện nay làm gốc tham chiếu thì Việt Nam đang thừa một lượng lớn lao động trình độ cao (từ cao đẳng trở lên), điều này phản ánh thực trạng "thừa thấy thiếu thợ" ở Việt Nam.

Xét theo ngành kinh tế, trong lĩnh vực nông nghiệp (thu hút đến hơn 40% lao động trong nền kinh tế), tỷ lệ lao động có bằng cấp chỉ chiếm 6% trong tổng số lao động có bằng cấp cả nước (tương đương khoảng 4,2% số lao động trong lĩnh vực này). Lao động có bằng cấp tập trung nhiều nhất ở khu vực dịch vụ (hơn 70%), trong khi số lao động hoạt động trong lĩnh vực dịch vụ chỉ chiếm 34%. Tỷ lệ lao động có bằng cấp, chứng chỉ trong ngành công nghiệp chiếm khoảng 20% tổng số lao động có bằng cấp, chứng chỉ trong nền kinh tế. Điều này cho thấy sự mất cân đối khá lớn về tỷ lệ lao động theo bằng cấp giữa các ngành kinh tế. Với tỷ lệ lao động có chuyên môn kỹ thuật quá thấp trong khu vực nông nghiệp đã và đang đặt ra thách thức lớn trong việc nâng cao năng suất lao động cũng như khả năng cạnh tranh của ngành trong bối cảnh cách mạng công nghiệp (CMCN) 4.0 đã diễn ra trên diện rộng.

Sự mất cân đối còn được thể hiện ở sự phân bố về mặt không gian. Hiện nay, đến 92% số cán bộ có trình độ tiến sĩ trở lên tập trung ở Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh; trong khi đó tại Tây Nguyên, Tây Bắc và Tây Nam bộ tỷ lệ này chưa tới 1%. 

Chất lượng chuyển dịch cơ cấu lao động theo bằng cấp còn hạn chế. Lực lượng lao động có trình độ cao đẳng, đại học chiếm tỷ lệ lớn nhất trong số lao động có bằng cấp. Tuy nhiên, số lao động có trình độ cao đẳng trở lên ở Việt Nam mới chỉ đạt gần 30 người/1000 dân trong khi Hàn Quốc là 52 và Nhật Bản là 70. Theo khảo sát của Ngân hàng Thế giới (WB), so với các nước như Malaysia, Thái Lan, Singapore, Indonesia thì đầu tư nhà nước/sinh viên của Việt Nam rất thấp. Năm 2017, Việt Nam đầu tư trung bình 700 USD/sinh viên, trong khi tại Singapore là 12.000 USD/sinh viên (từ năm 2013), Tổ chức Hợp tác và phát triển kinh tế (OECD) là 16.000 USD/sinh viên (từ năm 2014).

Theo thống kê của Bộ Khoa học và Công nghệ, tính đến hết năm 2017, cả nước có 24,3 nghìn tiến sĩ và 101 nghìn thạc sĩ. So với năm 1996 đội ngũ này tăng trung bình 11,6%/năm - gấp đôi tốc độ tăng lao động có bằng cấp, chứng chỉ, trong đó số tiến sĩ tăng 7%/năm, thạc sĩ tăng 14%/năm. Theo đó, Việt Nam được xếp vào nước có nhiều tiến sĩ, thạc sĩ trong khu vực nhưng nghiên cứu khoa học lại nằm trong nhóm thấp nhất Đông Nam Á.

Số công trình khoa học công bố trên các tạp chí ISI của Việt Nam trong 5 - 6 năm vừa qua tăng 20%, nhưng so với các nước trong khu vực, số công trình công bố của Việt Nam chỉ bằng 1/3 của Thái Lan, 1/4 của Malaysia, 1/5 của Singapore. Số bằng sáng chế của Việt Nam do các cơ quan có uy tín trên thế giới cấp (chỉ số cơ bản đánh giá khả năng sáng tạo công nghệ của một quốc gia) trong 5 năm gần đây tăng 60% nhưng chỉ bằng 1/3 của Thái Lan, 1/11 của Malaysia, 1/30 của Singapore, 1/1240 của Hàn Quốc và 1/3.170 của Trung Quốc.

Bên cạnh đó, khả năng thực hành, ứng dụng, sáng tạo nghề nghiệp của nhóm lao động có bằng cấp, chứng chỉ của Việt Nam so với các nước mới công nghiệp hóa (NICs) và các nước đang phát triển khác cũng bị đánh giá là có nhiều bất cập, chưa đáp ứng được nhu cầu phát triển nhanh của nền kinh tế thị trường. Một phần khá lớn những người có học hàm, học vị tuổi đã cao (độ tuổi trung bình của giáo sư là 60 tuổi, phó giáo sư là 55 tuổi). Tỷ lệ lao động khoa học công nghệ trong các cơ quan nghiên cứu và phát triển (R&D) có trình độ tiến sỹ là 9,7%, thạc sỹ là 3,43% trong khi ở Hàn Quốc là 29,48% và 45,78%.

Một nghịch lý nữa là trong nhóm lao động có trình độ chuyên môn kỹ thuật, lao động có trình độ càng cao, tỷ lệ thất nghiệp càng lớn. Năm 2016, tỷ lệ thất nghiệp ở nhóm lao động có bằng cấp, chứng chỉ là 1,11% so với 2,9% - tỷ lệ thất nghiệp chung thì đến năm 2018, tỷ lệ này ước khoảng 5,5% so với 2% tương ứng. Điều đáng nói là tỷ lệ thất nghiệp của nhóm lao động có trình độ đại học trở lên lên tới 5,7%, cao gấp 3 lần tỷ lệ thất nghiệp chung. Số lao động thất nghiệp có trình độ cao đẳng, đại học chiếm tới 40% lao động thất nghiệp qua đào tạo. Thực tế này đã phần nào cho thấy chất lượng của đội ngũ lao động trình độ đại học trở lên của Việt Nam còn hạn chế, chưa đáp ứng được yêu cầu thực thế trong khi lại luôn có kỳ vọng quá cao vào mức thu nhập thực tế và tâm lý "trình độ cao phải làm công việc xứng tầm". Điều này làm cho cơ hội việc làm của lao động có trình độ chuyên môn kỹ thuật cao bị thu hẹp và trở thành một mối quan ngại của Việt Nam.

Sự không phù hợp giữa bằng cấp đào tạo và nghề nghiệp trong thực tế của người lao động có xu hướng ngày càng rộng hơn, đặc biệt ở nhóm lao động trình độ đại học trở lên. Năm 2012 có 15,43% lao động có trình độ đại học trở lên làm nghề có chuyên môn kỹ thuật bậc trung trở xuống. Đến năm 2017, tỷ lệ này tăng lên đến 23%.

Hình 4. Tỷ lệ lao động có trình độ đại học trở lên làm nghề có chuyên môn kỹ thuật bậc trung trở xuống

Đơn vị: %

image

Nguồn: Báo cáo đánh giá lao động, việc làm giai đoạn 2012 - 2017, Tổng cục Thống kê

Xu thế này một mặt phản ánh sự lãng phí trong đầu tư cho đào tạo và sử dụng lao động trình độ cao, mặt khác cho thấy sự chưa tương xứng giữa bằng cấp và chất lượng thực sự của lao động được đào tạo, đồng thời đặt ra yêu cầu đào tạo phải phù hợp với nhu cầu sử dụng lao động của thị trường thay vì đào tạo cái mà người lao động muốn.

Trong khi đó, lao động có bằng cấp, chứng chỉ ở Việt Nam, nhất là lao động có trình độ cao, chưa đáp ứng được với yêu cầu phát triển, bằng cấp đuợc đào tạo chưa đạt được tiêu chuẩn quốc tế nên đội ngũ này đang có nguy cơ mất dần thế cạnh tranh. Chất lượng nguồn nhân lực theo bằng cấp thấp và chưa được đào tạo bài bản đang làm cho người lao động Việt Nam chịu lép vế và phải nhường lại các vị trí có thu nhập cao cho người nước ngoài. Ví dụ như ở nhà máy Xi măng Nghi Sơn (Thanh Hóa), những vị trí chủ chốt do người Nhật Bản nắm giữ do họ không tìm được người Việt Nam có khả năng đáp ứng các yêu cầu đưa ra. Tổng quỹ lương của 20 người Nhật làm việc trong nhà máy này bằng tổng quỹ lương của gần 2.000 người Việt Nam làm việc ở đây. Ở một số loại hình dịch vụ cao cấp khác, như ngân hàng, y tế... có tới 40% tổng số lao động có thu nhập từ 14.000 USD/năm trở lên, song hầu hết những vị trí đó hiện do người nước ngoài nắm giữ.

Cơ cấu lao động theo bằng cấp phát triển lệch lạc đưa nền kinh tế Việt Nam rơi vào tình trạng thiếu lao động có trình độ chuyên môn kỹ thuật. Thực trạng “thừa thầy, thiếu thợ” là một vấn đề nan giải mà Việt Nam sẽ phải đối mặt trong thời gian tới, do số lao động công nhân kỹ thuật và trung cấp chuyên nghiệp hợp lý tính theo số lao động có trình độ cao đẳng trở lên còn rất thiếu. Dây chuyền sản xuất chỉ toàn kỹ sư, thiếu công nhân và kỹ thuật viên thì sẽ trở nên lãng phí và đạt hiệu quả thấp. Trong khi đó, thực trạng “vừa thiếu, vừa thừa” đối với lao động có bằng cấp cao đẳng, đại học cũng đặt ra thách thức đối với chất lượng đào tạo hiện nay của Việt Nam.

Trường hợp Việt Nam hiện nay, nguyên nhân từ phía cung, đào tạo nguồn lao động được xem là lớn nhất. Khả năng đầu tư cho giáo dục của các gia đình còn hạn chế, chất lượng các cơ sở dạy nghề, trường đại học còn chưa đáp ứng được nhu cầu phát triển, công tác đào tạo trong các năm gần đây có xu hướng chạy theo mong muốn của người lao động, thị hiếu và ý thích chủ quan của nhiều bậc phụ huynh. Ngoài ra, việc mở ngành, xác định chỉ tiêu tuyển sinh của các cơ sở đào tạo chủ yếu dựa trên năng lực của cơ sở đào tạo, chưa bám sát nhu cầu thị trường lao động. Điều này dẫn đến đào tạo chưa gắn vào nhu cầu của các khu vực khác nhau của nền kinh tế và của các ngành, do đó dẫn đến sự mất cân đối nghiêm trọng giữa các ngành nghề đào tạo. Đáng chú ý là chương trình đào tạo còn nặng lý thuyết, thiếu các kỹ năng thực hành, chất lượng lao động đã được đào tạo chưa đáp ứng được với nhu cầu sử dụng hoặc chưa phù hợp với công nghệ sản xuất của các doanh nghiệp.

Từ phía cầu, doanh nghiệp thiếu thông tin về thị trường lao động, khó tiếp cận với nguồn nhân lực chất lượng cao đã có trên thị trường. Bản thân các doanh nghiệp không có ý định tham gia vào quá trình liên kết đào tạo nhân lực. Trong nhiều trường hợp, bản thân doanh nghiệp cũng chưa xác định được nhu cầu thực sự hoặc chưa có phương án cụ thể trong tương lai đối với việc thu hút lao động có chuyên môn kỹ thuật.

Quản lý nhà nước về phát triển nhân lực, nhất là quy hoạch, kế hoạch phát triển nguồn nhân lực của các ngành vẫn còn yếu kém, thiếu đồng bộ và bất cập. Công tác phân luồng giáo dục chưa đáp ứng yêu cầu. Thị trường lao động của Việt Nam đang có hiện tượng lao động một số ngành dư thừa trong khi đó một số ngành thiếu nhân lực so với nhu cầu tuyển dụng của doanh nghiệp. Ngoài ra, các trung tâm dạy nghề cũng đang có xu hướng chuyển thành các trường đại học. Việt Nam còn thiếu sự định hướng và tương tác giữa doanh nghiệp, nhà trường, sinh viên; thiếu hệ thống thông tin dự báo nguồn nhân lực; công tác dự báo nhu cầu nguồn nhân lực theo ngành/nghề, lĩnh vực, vùng/miền còn nhiều hạn chế. Chưa có các dự báo nhu cầu nguồn nhân lực có chất lượng dẫn đến các trường gặp khó khăn trong việc xây dựng định hướng phát triển, đào tạo không đáp ứng nhu cầu xã hội.

2. Các phương án chuyển dịch cơ cấu lao động theo bằng cấp đến năm 2025

Kinh tế Việt Nam đã đạt nhiều thành tựu ấn tượng về tăng trưởng và sự thay đổi cơ cấu kinh tế. Những thành tựu này đạt được là nhờ sự tích lũy nhanh các yếu tố sản xuất với lực lượng lao động tăng nhanh về quy mô và nguồn vốn ngày càng mở rộng. Với kỳ vọng kinh tế Việt Nam sẽ có những sự thay đổi về chất, Chính phủ đã xác định chính sách trong trung hạn là tăng cường năng lực đổi mới sáng tạo quốc gia. Đây là một nội dung quan trọng trong việc xác định định hướng phát triển lao động theo bằng cấp ở Việt Nam đến năm 2025. Theo đó, nền kinh tế Việt Nam sẽ dựa trên 4 nền tảng hướng đến đổi mới sáng tạo, cụ thể là: (i) Nâng cao nhu cầu về tri thức trong các doanh nghiệp, chủ yếu bằng việc tăng áp lực cạnh tranh trong môi trường hoạt động kinh doanh; (ii) Giúp các doanh nghiệp nâng cao năng lực “học hỏi công nghệ”; (iii) Nâng cao việc tạo ra tri thức và đào tạo nguồn vốn nhân lực tiên tiến, cũng như số lượng, chất lượng và tính phù hợp của hoạt động R&D; (iv) Không ngừng cải tiến chất lượng và tính phù hợp của kỹ năng trong lực lượng lao động, thông qua tăng cường khả năng đáp ứng nhu cầu và tính năng động trong giáo dục đại học.

Thị trường lao động Việt Nam đang đứng trước nhiều cơ hội và thách thức trong phát triển không chỉ về quy mô mà còn về chất lượng lao động. Trước mắt, thị trường lao động sẽ tiếp tục được phát triển theo hướng công nghiệp hóa - hiện đại hóa, theo đó, nhu cầu lao động có trình độ và qua đào tạo ngày càng tăng. Khi cuộc CMCN 4.0 ngày càng có những ảnh hưởng sâu rộng đến tăng trưởng kinh tế thì nhu cầu về nguồn nhân lực, đặc biệt là nguồn nhân lực chất lượng cao, càng trở nên bức thiết.

Với giả định rằng các yếu tố trong và ngoài nước tác động đến kinh tế vĩ mô được duy trì không đổi so với giai đoạn trước và Việt Nam có thể tận dụng tốt hơn các cơ hội mà hội nhập kinh tế đem lại và tác động tích cực từ CMCN 4.0, tăng trưởng của Việt Nam có thể đạt khoảng 7 - 7,2%3 từ nay cho đến năm 2025. Tuy nhiên, nếu như điều kiện tăng trưởng kinh tế không thuận lợi, chúng tôi đưa thêm phương án so sánh với kịch bản tăng trưởng trung bình khoảng 6,7 - 7%/năm. Giả định rằng Việt Nam vẫn là một nền kinh tế sử dụng nhiều lao động trong những năm tới nhưng hệ số co giãn việc làm sẽ có xu hướng giảm xuống nhờ ứng dụng khoa học công nghệ ngày càng tăng trong sản xuất. Để xem xét xu hướng chuyển dịch cơ cấu lao động theo bằng cấp đến năm 2025, chúng tôi thực hiện dự báo cung và cầu lao động theo bằng cấp cho giai đoạn này4. Tăng trưởng cung cầu lao động phụ thuộc vào yếu tố về kinh tế như tăng trưởng kinh tế chung hoặc theo ngành, yếu tố về sự phát triển khoa học kỹ thuật tác động đến nhu cầu sử dụng hoặc các yếu tố về xã hội như dân số. Nghiên cứu sử dụng phương pháp dự báo theo chuỗi thời gian với các giả thiết các yếu tố tác động đến thị trường lao động không đổi hoặc không có biến động bất thường, cầu về lao động qua đào tạo chỉ chịu tác động từ tăng trưởng kinh tế.

Kết quả dự báo cho thấy, cầu lao động từ 15 tuổi đang làm việc sẽ tăng từ 54 triệu lao động lên khoảng 58,7 triệu lao động đến năm 2025. Tăng trưởng cao hơn cần sử dụng nhiều lao động hơn, tuy nhiên có thể thấy sự dịch chuyển rất rõ ràng trong cơ cấu lao động theo ngành khi lao động trong khu vực nông nghiệp tiếp tục xu hướng giảm mạnh và lao động chuyển dần sang các khu vực khác theo hướng công nghiệp hóa - hiện đại hóa.

Bảng 1. Các kịch bản dự báo cầu lao động theo ngành, 2019 - 2025

Ngành

Kịch bản GDP 6,7 - 7%/năm

Kịch bản GDP 7 - 7,2%/năm

Tăng trưởng

Cơ cấu đến năm 2025 (%)

Tăng trưởng

Cơ cấu đến năm 2025 (%)

Ngành nông, lâm, thủy sản

-1,2%/năm

33,98

-1,6%/năm

32,91

Ngành công nghiệp - xây dựng

2,7%/năm

29,81

3,1%/năm

30,43

Ngành dịch vụ

1,6%/năm

36,21

1,9%/năm

36,66

Chung

0,86%/năm

100

0,92%/năm

100

Hệ số co giãn

việc làm

0,12

0,13

Nguồn: Tính toán của tác giả

Đến năm 2025, nhu cầu lao động có bằng cấp ngày càng tăng trong khi cầu lao động không có trình độ chuyên môn kỹ thuật có xu hướng giảm. Đối với kịch bản tăng trưởng trung bình, cầu lao động cao đẳng tăng nhanh với tốc độ trung bình 5,4%/năm cho giai đoạn 2021 - 2025, trong khi lao động có trình độ đại học trở lên chỉ tăng trung bình 4,6%/năm. Lao động qua dạy nghề và trung cấp chuyên nghiệp tăng lần lượt là 4,4%/năm và 2,2%/năm. Đối với kịch bản tăng trưởng cao, cầu lao động trình độ dạy nghề và cao đẳng tăng nhanh hơn so với các nhóm bằng cấp còn lại, lần lượt là 5%/năm và 6,6%/năm. Như vậy, muốn đạt mức tăng trưởng cao hơn cần xác định cầu lao động theo bằng cấp sẽ theo xu hướng ngày càng tăng.

Bảng 2. Dự báo tăng trưởng cầu lao động theo bằng cấp đến năm 2025

 

2011 - 2015

Kịch bản GDP 6 - 6,7%

Kịch bản GDP 7 - 7,2%

2016 - 2020

2021 - 2025

2016 - 2020

2021 - 2025

Dạy nghề

9,51%

2,78%

4,37%

3,67%

5,01%

Trung cấp chuyên nghiệp

2,70%

2,84%

2,22%

3,03%

2,95%

Cao đẳng

8,90%

6,03%

5,39%

7,21%

6,56%

Đại học trở lên

10,01%

5,80%

4,61%

5,82%

4,96%

Nguồn: Tổng cục Thống kê và tính toán của tác giả

Tổng cục Thống kê dự báo dân số của Việt Nam đến năm 2025 đạt 100,5 triệu người. Theo đó, tốc độ tăng dân số trung bình giai đoạn 2019 - 2025 là 0,9%/năm. Với giả định tỷ lệ dân số từ 15 tuổi trở lên tham gia lực lượng lao động tương tự giai đoạn trước, tỷ lệ này được duy trì ở mức trung bình là 75% đến năm 2025. Theo đó, lực lượng lao động từ 15 tuổi trở lên trung bình mỗi năm tăng thêm 480 nghìn lao động.

Bảng 3. Dự báo tăng trưởng trung bình cung lao động theo bằng cấp

 

2011 - 2015

2016 - 2020

2021 - 2025

Dạy nghề

9,5%

2,6%

4,1%

Trung cấp chuyên nghiệp

2,5%

2,8%

1,8%

Cao đẳng

9,6%

5,9%

4,8%

Đại học trở lên

10,3%

5,6%

4,5%

Nguồn: Tính toán của tác giả

Lao động không có trình độ chuyên môn kỹ thuật sẽ tiếp tục xu hướng giảm xuống, dự kiến trung bình giảm 0,2%/năm từ nay đến năm 2025. Số lao động giảm xuống này sẽ được bổ sung vào các nhóm bằng cấp khác nhau. Trong đó, lao động có trình độ cao đẳng, đại học trở lên vẫn duy trì tốc độ tăng cao hơn hẳn so với quy mô lao động ở các trình độ thấp hơn. Cụ thể, lao động có trình độ cao đẳng tăng khoảng 5,9%/năm giai đoạn 2016 - 2020 và tăng chậm hơn trong giai đoạn 5 năm tiếp theo với tốc độ tăng 4,8%/năm. Lao động có trình độ đại học trở lên có tốc độ tăng trưởng trung bình giai đoạn 2016 - 2020 là 5,6%/năm, tốc độ tăng này sẽ chậm lại trong giai đoạn 2021 - 2025, tăng 4,5%/năm. Với tốc độ tăng này, số lao động có trình độ cao đẳng - đại học trở lên đến năm 2025 sẽ đạt 9,7 triệu lao động, tăng 1,6 lần so với lao động cùng trình độ năm 2015. Trong khi đó, lao động trung cấp chuyên nghiệp tăng thấp nhất, trung bình giai đoạn 2021 - 2025 tăng 1,8%/năm, dự kiến đạt 2,4 triệu lao động đến năm 2025. Lao động qua đào tạo nghề dự kiến tăng 4,1%/năm và đạt 4,1 triệu lao động trong năm 2025.

Như vậy có thể thấy tỷ trọng của lao động không có trình độ chuyên môn kỹ thuật giảm xuống dù vẫn chiếm tỷ trọng chủ yếu, khoảng 72% tổng lực lượng lao động trên 15 tuổi đến năm 2025. 28% lao động có bằng cấp thì phân bổ chủ yếu là lao động có trình độ đại học trở lên, chiếm 13%; dạy nghề chiếm 7% còn lại là trung cấp chuyên nghiệp và cao đẳng chiếm khoảng 4%. Nếu như không có biến động mạnh từ chính sách đào tạo lao động, có thể thấy cơ cấu lao động theo bằng cấp phía cung vẫn là hình thang bị thắt ở giữa, chưa kể đáy của hình thang ngày càng bị thu hẹp lại.

So sánh cung - cầu lao động theo bằng cấp, tỷ lệ thất nghiệp của lao động có trình độ đại học và cao đẳng đứng vị trí thứ hai chỉ sau lao động không có trình độ. Dự kiến thất nghiệp trong kịch bản tăng trưởng trung bình khoảng 2% lực lượng lao động, tương đương khoảng 1,2 triệu lao động/năm. Trong đó, lao động thất nghiệp không có trình độ khoảng 800 nghìn người, lao động qua đào tạo từ cao đẳng trở lên khoảng 280 nghìn người vào năm 2025.

Phương án điều chỉnh lại cơ cấu lao động theo bằng cấp

Chuyển đổi cơ cấu lao động theo bằng cấp tiêu chuẩn của các nước phát triển là một sự đảm bảo vững chắc cho phát triển kinh tế nhưng trong điều kiện của Việt Nam hiện tại rất khó để có thể “nắn” cơ cấu lao động về khung hình tháp, chưa nói đến về cơ cấu chuẩn 1/4/10. Kỳ vọng chuyển cơ cấu lao động về khung hình tháp thì tốc độ tăng trưởng của lao động theo bằng cấp trung cấp chuyên nghiệp và dạy nghề sẽ phải tăng nhanh, mở rộng gấp 10 - 12 lần so với số lượng hiện tại để có thể về cơ cấu chuẩn. Tuy nhiên, với chính sách hiện nay, đạt được tốc độ tăng như vậy là bất khả thi. Nhu cầu lao động theo bằng cấp sẽ khác nhau qua từng giai đoạn phát triển nhưng đều có xu hướng tăng lên, điều này hoàn toàn phù hợp với xu thế phát triển chung của toàn nền kinh tế. Do đó để có thể đạt được một cơ cấu lao động theo bằng cấp đáp ứng nhu cầu phát triển trong tương lai, trước mắt có thể bắt đầu bằng việc mở rộng nút thắt kết hợp với kiểm soát tốc độ tăng lao động có bằng cấp từ cao đẳng trở lên. Trong quá khứ, đã có thời điểm cung lao động có bằng cấp đại học trở lên giảm 0,1% (năm 2006) hoặc lao động có bằng cấp cao đẳng giảm 0,5% (năm 2009). Như vậy có thể thực hiện kịch bản giữ nguyên quy mô hoặc giữ tốc độ tăng ở mức thấp cho nhóm lao động ở trình độ này, thay vào đó là có chính sách tập trung nhiều hơn vào phát triển theo chiều sâu và kiểm soát chất lượng đầu ra nhằm nâng cao chất lượng đào tạo cao đẳng, đại học chính quy.

Bảng 4. Phương án chuyển dịch cơ cấu lao động theo bằng cấp, 2019 - 2025

 

Phương án 1: 1/0,3/0,4

Phương án 2: 1/0,6/0,6

Phương án 3: 1/1/1

Tốc độ tăng trung bình lao động theo nhóm bằng cấp (%/năm)

Dạy nghề

4

6

13,6

Trung cấp chuyên nghiệp

1,7

11,6

19,6

Cao đẳng

5,1

1,4

1

Đại học trở lên

4,7

1,4

1

Lao động không có trình độ chuyên môn kỹ thuật (nghìn người)

2025

42.229

41.433

35.776

Nguồn: Tính toán của tác giả

Phương án 1 là phương án với giả thiết không có chính sách mới và điều chỉnh về chính sách đào tạo lao động so với hiện tại, tăng trưởng kinh tế được duy trì mức tăng trưởng khá (6 - 6,7%/năm). Theo đó, dự báo cung lao động theo bằng cấp sẽ theo cơ cấu 1/0,3/0,4 vào năm 2025, số lượng lao động không có trình độ chuyên môn kỹ thuật khoảng 42,2 triệu người, chiếm 72% tổng cung lực lượng lao động.

Phương án 2 là phương án với giả thiết thực hiện tốt “Chiến lược phát triển giáo dục 2011 - 2020”, điều chỉnh và bổ sung các quy chế giáo dục nhằm nâng cao chất lượng lao động theo các trình độ khác nhau, bổ sung thêm các chính sách nhằm đẩy mạnh lao động qua đào tạo, đặc biệt là trình độ trung cấp chuyên nghiệp. Tăng trưởng kinh tế được duy trì trung bình ở mức 6 - 6,7%/năm. Như vậy, trong số lượng lao động qua đào tạo tăng thêm thì tỷ trọng chủ yếu là lao động trong nhóm được đào tạo trung cấp chuyên nghiệp và dạy nghề, đồng thời giảm dần tốc độ tăng lao động ở trình độ cao đẳng trở lên. Tăng trưởng lao động qua dạy nghề cần tăng 6%/năm, lao động qua đào tạo trung cấp chuyên nghiệp là 11,6%/năm với giả định lao động cao đẳng và đại học tăng trưởng 1,4%/năm, khi đó cơ cấu lao động theo bằng cấp sẽ là 1/0,6/0,6. Số lao động không có trình độ chuyên môn kỹ thuật sẽ giảm thêm 800 nghìn người so với phương án 1.

Phương án 3 là phương án với giả thiết thực hiện tốt “Chiến lược phát triển giáo dục 2011 - 2020”, “Chiến lược phát triển dạy nghề giai đoạn 2011 - 2020”, tạo ra một bước đột phá toàn diện giáo dục và đào tạo, hướng đến đáp ứng tốt hơn các yêu cầu của công cuộc công nghiệp hóa - hiện đại hóa, bổ sung, điều chỉnh và ban hành mới các chính sách nhằm nâng cao chất lượng lao động, đặc biệt đầu tư cho lao động đào tạo nghề và trung cấp chuyên nghiệp trong bối cảnh tăng trưởng kinh tế tốt, mức tăng trưởng trung bình đạt 7 - 7,2%/năm. Theo đó, cơ cấu lao động theo bằng cấp kỳ vọng là 1/1/1. Để đạt được cơ cấu này, tốc độ tăng lao động có trình độ cao đẳng trở lên cần duy trì ở mức thấp hơn phương án 2, giả định là 1%/năm thì tốc độ tăng của lao động qua đào tạo trung cấp chuyên nghiệp là 19,6%/năm và dạy nghề là 13,6%/năm. Số lao động không có trình độ chuyên môn kỹ thuật sẽ giảm sâu, còn 36 triệu người. Đây là phương án với kỳ vọng rất lớn về mặt chính sách.

Để tạo ra sự bứt phá về chất lượng lao động cũng như đáp ứng tốt hơn nhu cầu lao động trong thời gian tới, cần có sự thay đổi đáng kể về số lượng cũng như chất lượng cho từng loại bằng cấp. Trong khi cần kiểm soát cung lao động trong nhóm cao đẳng, đại học trở lên thì cần đẩy mạnh hơn nữa quy mô lao động qua đào tạo trung cấp chuyên nghiệp và dạy nghề, mỗi một thay đổi khi “nắn” nút thắt của cơ cấu lao động theo bằng cấp cũng sẽ đòi hỏi tăng trưởng mạnh mẽ lao động trong các nhóm bằng cấp này. Xem xét đến định hướng chính sách cũng như các yếu tố tác động đến chuyển dịch cơ cấu lao động như xu hướng tăng trưởng kinh tế, nếu tiếp tục duy trì cơ cấu hiện tại có thể gây ra bất hợp lý trong dài hạn, do đó đề xuất phương án 2 là phương án khả thi hướng đến mục tiêu thay đổi cơ cấu lao động theo bằng cấp tích cực trong khi mức độ điều chỉnh chính sách không quá nhiều như phương án 3.

Một số đề xuất

(i) Tăng cường hiệu lực, hiệu quả của quản lý nhà nước trong hệ thống đào tạo nghề: Bổ sung hoàn thiện hệ thống văn bản quy phạm pháp luật và hệ thống chính sách tạo động lực cho sự chuyển dịch cơ cấu lao động theo bằng cấp. Đẩy nhanh việc rà soát, sắp xếp và quy hoạch lại mạng lưới cơ sở giáo dục nghề nghiệp và việc ra quyết định phê duyệt quy hoạch mạng lưới cơ sở dạy nghề đến năm 2020 và tầm nhìn đến năm 2030, đảm bảo mục tiêu mạng lưới cơ sở giáo dục dạy nghề có thể đào tạo 2,25 triệu người/năm. Tạo ra cơ chế khuyến khích lao động chưa có bằng cấp tham gia đào tạo như đa dạng hóa các loại hình đào tạo, đa dạng hóa các nguồn lực cho giáo dục và đào tạo.

(ii) Nâng cao nhận thức của người dân về hệ thống bằng cấp. Đổi mới tư duy, quan điểm nhìn nhận, đánh giá giá trị vật chất do lao động có trình độ công nhân kỹ thuật và trung cấp chuyên nghiệp sáng tạo ra cho xã hội trong thời kỳ công nghiệp hóa - hiện đại hóa và hội nhập quốc tế. Đồng thời, xóa bỏ tâm lý về đào tạo đại học là cánh cửa duy nhất của học sinh sau đào tạo phổ thông. Nâng cao vị thế của lao động có bằng cấp, đặc biệt là vai trò của lao động có bằng cấp trung cấp chuyên nghiệp và dạy nghề, đặc biệt là lao động kỹ thuật trong xã hội. Có những chính sách ưu tiên, cơ chế ưu đãi hoặc tôn vinh những lao động có thành tích, đặc biệt cho lao động theo bằng cấp cần mở rộng về quy mô như trung cấp chuyên nghiệp hay công nhân kỹ thuật. Bên cạnh đó, cần sửa đổi, bổ sung các luật liên quan đến sử dụng và quyền lợi của đội ngũ lao động kỹ thuật có tay nghề trong bối cảnh CMCN 4.0. Bên cạnh đó, nâng cao tính cạnh tranh trong giáo dục cao đẳng - đại học và kiểm soát theo chất lượng đầu ra. Cần có sự điều chỉnh cách thức kiểm soát chất lượng cả sinh viên và giáo viên.

Giáo dục đào tạo cần được xây dựng theo định hướng cầu nhằm tạo ra được sự cân bằng trong đào tạo và sử dụng ở các ngành nghề, vùng miền và các thành phần kinh tế, tránh những lãng phí không cần thiết khi đào tạo lao động có bằng cấp mà không được sử dụng hay sử dụng sai so với nội dung đào tạo. Tạo lập một hệ thống thông tin gắn kết giữa người đào tạo và người sử dụng lao động. Cần xây dựng cơ chế khuyến khích doanh nghiệp cung cấp thông tin về nhu cầu đào tạo, sử dụng lao động theo từng ngành, nghề và những thông tin liên quan đến chất lượng lao động sau đào tạo có đáp ứng nhu cầu của người sử dụng.

Tài liệu tham khảo

1. Bộ Kế hoạch và Đầu tư (2013), Việt Nam 2035, Nhà xuất bản Hồng Đức.

2. Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội (2015 - 2018), Bản tin cập nhật thị trường lao động theo quý.

3. Đại học Kinh tế Quốc dân (2006), Giáo trình Kinh tế phát triển, Nhà xuất bản Đại học Kinh tế Quốc dân.

4. Đỗ Văn Thành (2014), Nghiên cứu phương pháp dự báo kinh tế xã hội trung hạn ở Liên bang Nga và khả năng ứng dụng vào Việt Nam.

5. Hoàng Việt Hà (2018), Nguồn nhân lực 4.0: Cơ hội và thách thức, http://baodauthau.vn.

6. Nghị quyết số 23-NQ/TW ngày 22/3/2018 về xây dựng chính sách phát triển công nghiệp quốc gia đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045.

7. Nghị quyết số 29-NQ/TW ngày 4/11/2013 về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo.

8. Quy hoạch hoạch phát triển nhân lực Việt Nam giai đoạn 2011 - 2020.

9. Quyết định số 899/QĐ-TTg ngày 20/6/2017 phê duyệt Chương trình mục tiêu Giáo dục nghề nghiệp - Việc làm và An toàn lao động giai đoạn 2016 - 2020.

10. Quyết định số 879/QĐ-TTg ngày 09/6/2014 phê duyệt Chiến lược phát triển công nghiệp Việt Nam đến năm 2025, tầm nhìn đến năm 2035.

11. Quyết định số 630/QĐ-TTg ngày 29/5/2012 phê duyệt Chiến lược phát triển Dạy nghề giai đoạn 2011 - 2020.

12. Quyết định số 711/QĐ-TTg ngày 13/6/2012 phê duyệt Chiến lược phát triển giáo dục 2011 - 2020.

12. Tổng cục Thống kê (QII/2018 - 2009), Báo cáo Điều tra lao động, việc làm.

13. Tổng cục Thống kê (2000 - 2017), Số liệu thống kê dân số và lao động.

14. Trung tâm Thông tin và Dự báo kinh tế - xã hội quốc gia (2014), Kỷ yếu hội thảo Kinh tế Việt Nam đến 2025: Cơ hội và thách thức.

15. Trung tâm Dự báo nhu cầu nhân lực và thông tin thị trường lao động thành phố Hồ Chí Minh (2015), Dự báo nhu cầu nhân lực 2015 đến 2025 - Ngành nghề hội nhập cộng đồng kinh tế ASEAN sau 2015.

16. Văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2011 - 2020.

Bài đằng trên Tạp chí Kinh tế tài chính Việt Nam số 1 tháng 02/2020

*1 Dữ liệu của Ngân hàng Thế giới.

*2 Cứ 1 lao động có trình độ cao đẳng, đại học trở lên thường có 4 - 5 lao động trung cấp và 10 hoặc 20 là sơ cấp, dạy nghề.

*3 Dự báo của Trung tâm Thông tin và Dự báo kinh tế - xã hội quốc gia, 12/2018.

*4 Phương pháp dự báo được xây dựng theo Đề tài cấp nhà nước “Nghiên cứu phương pháp dự báo kinh tế - xã hội trung hạn ở Liên bang Nga và khả năng ứng dụng vào Việt Nam” năm 2014 do Trung tâm Thông tin và Dự báo kinh tế - xã hội quốc gia chủ trì. Từ phía cung, tác giả sử dụng dự báo về dân số Việt Nam giai đoạn 2014 - 2049 theo Tổng cục Thống kê với phương án mức sinh cao và tỷ lệ tham gia lực lượng lao động tiếp tục được duy trì khoảng 75% và ước lượng xác suất cho từng loại bằng cấp, trong đó LDit = (oddit/(1+oddit)) * LLLDt. Từ phía cầu, ước lượng hồi quy hệ số co giãn việc làm EC = f(GDP,t) và tương tự ước lượng xác suất cho từng loại bằng cấp.