Quý I/2022: Kinh tế Việt Nam đạt nhiều kết quả tích cực

Quý I/2022: Kinh tế Việt Nam đạt nhiều kết quả tích cực 15/04/2022 17:26:00 86

Cỡ chữ:A- A+
Tương phản:Giảm Tăng

Quý I/2022: Kinh tế Việt Nam đạt nhiều kết quả tích cực

15/04/2022 17:26:00

Trong Quý I/2022, kinh tế Việt Nam có nhiều tín hiệu tích cực trong bối cảnh kinh tế thế giới tiếp tục duy trì đà hồi phục, các hoạt động sản xuất được đẩy mạnh, chuỗi cung ứng toàn cầu dần được khơi thông…Tuy nhiên, xung đột giữa Nga - Ukraine đã tác động đến mọi mặt đời sống kinh tế - xã hội, đẩy giá hàng hóa trên thị trường thế giới tăng cao, gây áp lực lớn đến lạm phát toàn cầu và ảnh hưởng đến tăng trưởng toàn cầu. Mặc dù vậy, ở trong nước, Chương trình phục hồi và phát triển kinh tế - xã hội của Chính phủ đã và đang triển khai được cho là động lực cho phục hồi và phát triển kinh tế nhanh và bền vững. Nhờ vậy, kinh tế Việt Nam đã đạt được nhiều kết quả tích cực trong quý I/2022, với hầu hết các ngành, lĩnh vực có xu hướng phục hồi và tăng trưởng trở lại.

Kinh tế vĩ mô tiếp tục duy trì ổn định

Xu hướng phục hồi và tăng trưởng trở lại ở hầu hết các ngành, lĩnh vực đưa GDP quý I/2022 tăng khoảng 5,03% so với cùng kỳ, cao hơn tốc độ tăng 4,72% và 3,66% của quý I/2021 và quý I/2020. Trong đó, khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản mặc dù chịu ảnh hưởng bởi diễn biến phức tạp của dịch Covid-19, giá thức ăn, giá xăng dầu tăng cao… nhưng vẫn có nhiều dấu hiệu chuyển biến tích cực, với hoạt động sản xuất và tiêu thụ nông sản cơ bản phục hồi và tăng trưởng tốt so với cùng kỳ. Trong quý I/2022, ngành nông nghiệp tăng 2,35% so với cùng kỳ, đóng góp 0,22 điểm phần trăm vào mức tăng tổng giá trị tăng thêm của toàn nền kinh tế; ngành lâm nghiệp và thủy sản lần lượt tăng 3,86% và 2,54%, đóng góp 0,02 và 0,05 điểm phần trăm.

Sản xuất công nghiệp tiếp tục tăng trưởng tốt. Chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp (IIP) 3 tháng đầu năm 2022 tăng khoảng 6,4% so với cùng kỳ 2021 với sự đóng góp của cả 4 ngành chính: chế biến, chế tạo (tăng 7%); sản xuất và phân phối điện (tăng 7,1%); cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải (tăng 5,3%); khai khoáng (tăng 1% - chủ yếu do khai thác than và quặng kim loại tăng).

Khu vực dịch vụ khởi sắc với mức tăng 4,58% so với cùng kỳ khi nhiều hoạt động dịch vụ sôi động trở lại. Đóng góp của một số ngành dịch vụ chiếm tỷ trọng lớn: hoạt động tài chính, ngân hàng và bảo hiểm tăng 9,75%, đóng góp 0,54 điểm phần trăm; ngành vận tải, kho bãi tăng 7,06%, đóng góp 0,43 điểm phần trăm; ngành bán buôn và bán lẻ tăng 2,98%, đóng góp 0,31 điểm phần trăm; ngành dịch vụ lưu trú và ăn uống giảm 1,79%, làm giảm 0,04 điểm phần trăm.

Xuất - nhập khẩu tiếp tục duy trì đà tăng trưởng cao

Tổng kim ngạch xuất - nhập khẩu hàng hóa tăng 14,4% so với cùng kỳ, trong đó xuất khẩu tăng 12,9%, nhập khẩu tăng 15,9%. Đối với dịch vụ, kim ngạch xuất khẩu tăng 19,6% so với cùng kỳ, kim ngạch nhập khẩu tăng 10%. Những kết quả tích cực trên có được là nhờ nhu cầu tại các thị trường lớn như Hoa Kỳ, Liên minh châu Âu (EU)... phục hồi làm cho tăng trưởng xuất khẩu ở mức cao (quý I/2022, xuất khẩu sang Hoa Kỳ tăng 13,2% so với cùng kỳ năm trước; EU tăng 15,4%; Hàn Quốc tăng 14,6%; ASEAN tăng 18,3%; Trung Quốc tăng 6,2%), nhu cầu sản xuất và tiêu dùng trong nước phục hồi giúp nhập khẩu tăng trưởng tốt, giá cả hàng hóa thế giới tăng cao làm cho chỉ số giá xuất - nhập khẩu của Việt Nam tăng cao (quý I/2022, chỉ số giá xuất khẩu tăng 7,51%; chỉ số giá nhập khẩu tăng 10,98% so với cùng kỳ năm trước). Cán cân thương mại quý I/2022 thặng dư 809 triệu USD, chiếm khoảng 0,91% kim ngạch xuất khẩu.

Tổng vốn đầu tư toàn xã hội quý I/2022 tăng trưởng tích cực, đóng góp vào sự phục hồi của kinh tế trong nước

Vốn đầu tư thực hiện toàn xã hội quý I/2022 theo giá hiện hành đạt khoảng 562,2 nghìn tỷ đồng, tăng 8,9% so với cùng kỳ năm trước. Đầu tư của cả 3 khu vực kinh tế đều tăng mạnh (vốn khu vực nhà nước đạt khoảng 136,5 nghìn tỷ đồng, chiếm 24,3% tổng vốn đầu tư và tăng 9,3% so với cùng kỳ năm trước; khu vực ngoài nhà nước đạt 323,1 nghìn tỷ đồng, chiếm 57,5%, tăng 9,1%; khu vực có vốn FDI đạt 102,6 nghìn tỷ đồng, chiếm 18,2% và tăng 7,9%), giải ngân đầu tư của khu vực nhà nước có sự cải thiện so với cùng kỳ năm trước (vốn khu vực nhà nước đạt khoảng 136,5 nghìn tỷ đồng, chiếm 24,3% tổng vốn đầu tư và tăng 9,3% so với cùng kỳ năm trước; khu vực ngoài nhà nước đạt 323,1 nghìn tỷ đồng, chiếm 57,5%, tăng 9,1%; khu vực có vốn FDI đạt 102,6 nghìn tỷ đồng, chiếm 18,2% và tăng 7,9%).

Dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) phục hồi mạnh, giải ngân quý I/2022 cao nhất trong 5 năm trở lại đây

Mặc dù vốn đăng ký giảm so với cùng kỳ nhưng chủ yếu do vốn đăng ký mới đạt thấp, trong khi vốn đăng ký tăng thêm và góp vốn, mua cổ phần của nhà đầu tư nước ngoài tăng mạnh. Tính đến ngày 20/3/2022, tổng vốn đăng ký đạt 8,91 tỷ USD, giảm 12,1% so với cùng kỳ năm trước (vốn đăng ký cấp mới đạt 3,21 tỷ USD, giảm 55,5% so với cùng kỳ năm trước; vốn đăng ký điều chỉnh tăng thêm đạt 4,07 tỷ USD, tăng 93,3%; vốn đăng ký góp vốn, mua cổ phần của nhà đầu tư nước ngoài đạt 1,63 triệu USD, tăng 102,6%); vốn FDI thực hiện đạt khoảng 4,42 tỷ USD, tăng 7,8%.

Hoạt động thương mại và dịch vụ dần phục hồi

Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng quý I/2022 đạt hơn 1.318 nghìn tỷ đồng, tăng 4,4% so với cùng kỳ, nếu loại trừ yếu tố giá tăng 1,6% (cùng kỳ năm 2021 tăng 2%).

Lạm phát duy trì trong tầm kiểm soát

Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 3/2022 tăng 0,7% so với tháng trước, thấp hơn so với mức tăng 1% của tháng 02/2022 nhưng là mức tăng cao nhất trong các tháng 3 từ năm 2012 đến nay. Nguyên nhân là do: (i) Giá năng lượng thế giới tăng cao, tác động làm tăng giá nhóm giao thông (nhóm giao thông có mức tăng cao nhất với 4,8% do tác động của hai lần điều chỉnh tăng giá xăng, dầu trong tháng làm chỉ số giá xăng, dầu tăng 13,44%, tác động CPI chung tăng 0,48 điểm phần trăm, giá cước vận tải cũng được điều chỉnh tăng 1 - 2%, giá dịch vụ tăng 0,4 - 1%) và nhà ở, vật liệu xây dựng (nhóm nhà ở và vật liệu xây dựng tăng 1,49% do giá dầu hỏa tăng 18,18%; giá gas tăng 9,33%; giá điện nước, giá nhà ở cũng tăng 1 - 3%, tác động làm CPI chung tăng 0,28 điểm phần trăm); (ii) Tổng cầu có xu hướng phục hồi, điển hình là cầu tiêu dùng và đầu tư. Bên cạnh đó, trong quý I/2022 tăng trưởng cầu tiền cũng tương đối tích cực (tổng phương tiện thanh toán tăng 2,49%; tăng trưởng tín dụng của nền kinh tế đạt 4,03%, đều cao hơn mức 1,49% và 1,47% của tháng 3/2021).

Tháng 3/2022, CPI tăng 1,91% so với tháng 12/2021 và tăng 2,41% so với cùng kỳ năm 2021. Tính chung quý I/2022, CPI bình quân tăng 1,92% so với cùng kỳ, chủ yếu do giá các mặt hàng năng lượng thế giới tăng, kéo giá các mặt hàng xăng dầu, gas... trong nước tăng (giá xăng dầu trong nước tăng 48,81% so với cùng kỳ năm trước; giá gas tăng 21,04%), tác động làm CPI bình quân chung tăng 2,07%. Riêng giá thực phẩm giảm 1,2%, giá dịch vụ giáo dục giảm 4,24%, đã góp phần làm CPI bình quân chung giảm 0,49 điểm phần trăm (tương đương 25,65% CPI chung).

Thị trường tài chính - tiền tệ trong nước chịu một số tác động từ căng thẳng địa - chính trị trên toàn cầu, đặc biệt là thị trường vàng

Tác động tiêu cực của các yếu tố quốc tế tới thị trường tỷ giá, thị trường chứng khoán mang tính chất thời điểm, thị trường nhanh chóng hồi phục và duy trì hoạt động ổn định (giá trị giao dịch bình quân đạt 31.032,79 tỷ đồng/phiên, tăng 12,81% so với bình quân năm trước). Mặc dù mặt bằng lãi suất cho vay và huy động trên thị trường vẫn giữ ổn định ở mức thấp nhưng lãi suất trên thị trường liên ngân hàng tiếp tục tăng mạnh.

Về lãi suất huy động, một số ngân hàng có động thái tăng lãi suất huy động do nhu cầu vốn để phục vụ các kế hoạch kinh doanh ngắn hạn và sức ép thanh khoản do nợ xấu gia tăng hoặc nợ được tái cơ cấu kỳ hạn trả nợ, tuy nhiên mặt bằng lãi suất tiết kiệm vẫn đang ở mức phổ biến là 3,3 - 3,5%/năm đối với tiền gửi có kỳ hạn từ 1 tháng đến dưới 6 tháng; 4,2 - 5,7%/năm đối với tiền gửi kỳ hạn từ 6 tháng đến dưới 12 tháng; kỳ hạn từ 12 tháng đến 24 tháng có lãi suất 5,4 - 5,9%.

Về lãi suất cho vay, lãi suất cho vay bình quân của ngân hàng thương mại trong nước đối với các khoản cho vay mới và cũ còn dư nợ ở mức 7,8 - 9,2%/năm. Lãi suất cho vay ngắn hạn bình quân bằng VND đối với lĩnh vực ưu tiên khoảng 4,3%/năm, thấp hơn mức lãi suất cho vay ngắn hạn tối đa theo quy định của Ngân hàng Nhà nước - NHNN (4,5%/năm). Lãi suất cho vay bằng đồng USD bình quân của ngân hàng thương mại trong nước đối với các khoản cho vay mới và cũ còn dư nợ là 2 - 3,2%/năm đối với ngắn hạn; 3,4 - 4,3%/năm đối với trung và dài hạn.

Chính sách tài khóa và chính sách tiền tệ chủ động, linh hoạt, tập trung hỗ trợ, phục hồi nền kinh tế

Mặc dù áp dụng các biện pháp miễn, giảm, gia hạn thời hạn nộp thuế và các khoản thu ngân sách theo Chương trình phục hồi và phát triển kinh tế - xã hội nhưng lũy kế thu NSNN quý I/2022 đạt 460,6 nghìn tỷ đồng, bằng 32,6% dự toán, tăng 7,7% so cùng kỳ năm 2021. Lũy kế chi NSNN quý I đạt 351,3 nghìn tỷ đồng, bằng 19,7% dự toán, tăng 2,5% so với cùng kỳ năm 2021. Cân đối ngân sách trung ương và ngân sách các cấp địa phương được đảm bảo.

Quý I/2022, trong bối cảnh nền kinh tế gặp nhiều khó khăn do ảnh hưởng của dịch Covid-19, NHNN tiếp tục giữ nguyên mức lãi suất điều hành, tạo điều kiện để các tổ chức tín dụng tiếp tục giảm lãi suất cho vay, hỗ trợ nền kinh tế phục hồi và phát triển. Tính đến ngày 21/3/2022, tổng phương tiện thanh toán tăng 2,49% so với cuối năm 2021; huy động vốn của các tổ chức tín dụng tăng 2,15%; tăng trưởng tín dụng của nền kinh tế đạt 4,03%.

Triển vọng tăng trưởng kinh tế

Trong thời gian tới, kinh tế Việt Nam phải đối diện với một số thách thức như: (i) Áp lực kiểm soát lạm phát từ gói phục hồi, phát triển kinh tế - xã hội, chi phí đẩy khi hàng hóa tiêu dùng, dịch vụ tăng do giá xăng, dầu tăng; (ii) Phân bổ vốn đầu tư công còn chậm, giải ngân vốn đầu tư công không đồng đều; (iii) Tình hình doanh nghiệp vẫn khó khăn khi số lượng doanh nghiệp tạm ngừng kinh doanh, giải thể… tăng cao; (iv) Lãi suất huy động đang trong áp lực tăng. Cùng với đó, sự phục hồi của nền kinh tế có thể bị đe dọa bởi những đợt bùng phát dịch Covid-19 với những biến thể mới, căng thẳng địa - chính trị tại Nga - Ukraine, biến đổi khí hậu…

Mặc dù vậy, các tổ chức quốc tế tiếp tục đánh giá nền tảng kinh tế Việt Nam vẫn ổn định trong thời gian tới, dựa trên các yếu tố như: (i) Nỗ lực trong cải thiện mạnh mẽ, thực chất môi trường đầu tư - kinh doanh; chú trọng phát triển kinh tế - xã hội số; nâng cao năng suất, chất lượng và hiệu quả của nền kinh tế; (ii) Xuất - nhập khẩu đạt kết quả tích cực sẽ tác động tốt tới cán cân thương mại, cán cân tài khoản vãng lai và cán cân thanh toán; (iii) Sản xuất công nghiệp phục hồi. Tuy nhiên, tăng trưởng kinh tế quý II/2022 và cả năm 2022 còn phụ thuộc vào việc kiểm soát lạm phát, sự phối hợp đồng bộ giữa chính sách tài khóa và chính sách tiền tệ, hiệu quả giải ngân đầu tư công, cũng như việc thực hiện gói hỗ trợ của Chương trình phục hồi và phát triển kinh tế - xã hội; hiệu quả của việc thực thi Hiệp định Đối tác kinh tế toàn diện khu vực (RCEP). Theo đó, tốc độ tăng trưởng kinh tế của Việt Nam năm 2022 được các tổ chức quốc tế dự báo đạt khoảng 5,5 - 7,5% (mục tiêu của Việt Nam khoảng 6 - 6,5%), lạm phát trong khoảng 2,3 - 3,8% (mục tiêu là bình quân khoảng 4%).

Ban KTVM&DB (Viện CLTC)

Tài liệu tham khảo

1. Ngân hàng Thế giới (WB, 3/2022), Cập nhật tình hình kinh tế vĩ mô Việt Nam.

2. Tổng cục Thống kê (2022), Tình hình kinh tế - xã hội quý I/2021.

3. Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB, 3/2022), Southeast Asia: Rising from the Pandemic.

 

 

 

Các tin khác

Bình chọn

Điểm bình chọn
0 / 5
Tổng 0 lượt bình chọn
5
0%
4
0%
3
0%
2
0%
1
0%

Liên kết website