Bộ Tài chính trả lời kiến nghị cử tri về cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước

Bộ Tài chính trả lời kiến nghị cử tri về cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước 11/06/2018 15:43:00 844

Cỡ chữ:A- A+
Tương phản:Giảm Tăng

Bộ Tài chính trả lời kiến nghị cử tri về cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước

11/06/2018 15:43:00

Tại kỳ họp thứ 4, Quốc hội khoá XIV, cử tri thành phố Hồ Chí Minh kiến nghị “cần đẩy nhanh tiến độ cổ phần hoá các doanh nghiệp nhà nước, cần làm rõ nguyên nhân chậm thực hiện để có giải pháp khắc phục hiệu quả.”

Về vấn đề này, tại công văn số 1467/BTC-TCDN ngày 05/02/2018, Bộ Tài chính trả lời cử tri như sau:

Thời gian qua, công tác sắp xếp, đổi mới, tái cơ cấu nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp nhà nước (DNNN) luôn được Đảng, Chính phủ quan tâm và chỉ đạo thực hiện trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, trong đó cổ phần hóa DNNN được xác định là nhiệm vụ trọng tâm, xuyên suốt quá trình sắp xếp, đổi mới DNNN.

Kể từ thời điểm Việt Nam bắt đầu thí điểm cổ phần hóa năm 1992 đến nay đã trên 20 năm, Đảng và Chính phủ luôn xác định mục tiêu của công tác cổ phần hóa là: Chuyển đổi những doanh nghiệp mà Nhà nước không cần giữ 100% vốn sang loại hình doanh nghiệp có nhiều chủ sở hữu; huy động vốn của các nhà đầu tư trong nước và nước ngoài để nâng cao năng lực tài chính, đổi mới công nghệ, đổi mới phương thức quản lý nhằm nâng cao hiệu quả và sức cạnh tranh của nền kinh tế; Bảo đảm hài hoà lợi ích của Nhà nước, doanh nghiệp, nhà đầu tư và người lao động trong doanh nghiệp; Thực hiện công khai, minh bạch theo nguyên tắc thị trường; khắc phục tình trạng cổ phần hóa khép kín trong nội bộ doanh nghiệp; gắn với phát triển thị trường vốn, thị trường chứng khoán.

Thực hiện chủ trương của Đảng và Chính phủ về tái cơ cấu tổng thể nền kinh tế trong giai đoạn 2011 - 2015, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 929/QĐ-TTg ngày 17/7/2012 phê duyệt Đề án “Tái cơ cấu doanh nghiệp nhà nước, trọng tâm là tập đoàn kinh tế, tổng công ty nhà nước (TĐ, TCT) giai đoạn 2011-2015”.

Trong giai đoạn 2011 – 2015, Chính phủ đã chỉ đạo thực hiện có kết quả công tác tái cơ cấu DNNN, đề ra chương trình hành động và kế hoạch cụ thể, chỉ đạo quyết liệt, định kỳ giao ban, sơ kết, tổng kết toàn diện. Trên cơ sở kết quả triển khai tái cơ cấu của các Bộ, ngành, địa phương, các TĐ, TCT, ngày 06/12/2016, Ban Chỉ đạo Đổi mới và Phát triển doanh nghiệp đã tổ chức Hội nghị Toàn quốc triển khai công tác sắp xếp, đổi mới DNNN giai đoạn 2016 - 2020, theo đó kết quả sắp xếp, đổi mới, tái cơ cấu DNNN giai đoạn 2011 – 2015 như sau:

DNNN đã giảm mạnh về số lượng, từ 1.369 DNNN năm 2011 đến năm 2016 còn 652 DNNN chủ yếu hoạt động trong các lĩnh vực then chốt, đảm bảo cân đối vĩ mô cho nền kinh tế, công ích, an ninh, quốc phòng.

Hiệu quả hoạt động của DNNN: Tổng hợp tình hình tài chính và kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh năm 2015 của các DNNN đã được Chính phủ báo cáo Quốc hội tại báo cáo số 428/BC-CP ngày 17/10/2016 cho thấy hầu hết các DNNN, trọng tâm là Tập đoàn, Tổng công ty nhà nước vẫn tiếp tục duy trì ổn định hoạt động sản xuất, kinh doanh, góp phần giữ vững mục tiêu ổn định kinh tế vĩ mô, cụ thể: Tổng tài sản của 652 doanh nghiệp là 3.043.687 tỷ đồng; vốn chủ sở hữu là 1.376.236 tỷ đồng; tổng doanh thu đạt 1.588.326 tỷ đồng; lợi nhuận trước thuế đạt 161.431 tỷ đồng; tổng số phát sinh phải nộp ngân sách nhà nước là 246.038 tỷ đồng.

Hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp sau cổ phần hóa được nâng lên, theo số liệu báo cáo của các DNNN đã cổ phần hóa giai đoạn 2011-2015, kết quả hoạt động kinh doanh của năm 2015 đều tăng hơn so với năm trước khi cổ phần hóa. Cụ thể: vốn điều lệ tăng 72%; tổng tài sản tăng 39%; vốn chủ sở hữu tăng 60%; doanh thu tăng 29%; lợi nhuận trước thuế tăng 49%; nộp ngân sách tăng 27%; thu nhập bình quân của người lao động tăng 33%.

Các DNNN sau cổ phần hóa hoạt động hiệu quả có nhiều tác động tích cực đến quá trình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước như: Tăng tính cạnh tranh trong nền kinh tế, thúc đẩy thị trường chứng khoán, thị trường tài chính phát triển, đổi mới cơ bản về quản trị doanh nghiệp. Hiện nay, đa số các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán là các công ty cổ phần được chuyển đổi từ DNNN (khoảng 450/700 doanh nghiệp niêm yết).

Cơ chế, chính sách đối với DNNN được sửa đổi, bổ sung đầy đủ đồng bộ, trong đó cơ chế quản lý, giám sát DNNN ngày càng chặt chẽ hơn. Giai đoạn 2011 – 2015, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành 69 Nghị định, Nghị quyết, quyết định, chỉ thị. Trong đó có 21 văn bản về đổi mới tổ chức, quản lý đối với DNNN; 34 văn bản về sắp xếp, tái cơ cấu, cổ phần hóa, thoái vốn nhà nước tại doanh nghiệp; 14 điều lệ tổ chức, hoạt động của các Tập đoàn, Tổng công ty. Các Bộ đã ban hành 15 thông tư hướng dẫn thực hiện các cơ chế, chính sách nêu trên.

DNNN hoạt động trong môi trường kinh doanh được bình đẳng với doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế. Việc sản xuất, cung ứng các sản phẩm, dịch vụ công ích của doanh nghiệp đã chuyển từ cơ chế Nhà nước cấp vốn, giao nhiệm vụ kế hoạch sang cơ chế đấu thầu, đặt hàng. Chính phủ đã ban hành Nghị định phân công, phân cấp thực hiện các quyền, nghĩa vụ, trách nhiệm của chủ sở hữu nhà nước đối với DNNN và vốn nhà nước đầu tư vào doanh nghiệp.

Trong giai đoạn 2011 - 2015 cả nước đã cổ phần hóa được 508 doanh nghiệp. Năm 2016 đã cổ phần hóa 62 doanh nghiệp. Lũy kế trong giai đoạn 2011 - 2016, cả nước đã cổ phần hóa 570 doanh nghiệp.

Đánh giá tình hình cổ phần hóa giai đoạn vừa qua cho thấy: Tiến độ sắp xếp, cổ phần hoá đã được các Bộ, địa phương đẩy mạnh nhưng vẫn còn một số Bộ, địa phương chưa đáp ứng được yêu cầu và kế hoạch đề ra; Tỷ lệ vốn Nhà nước ở các công ty cổ phần còn cao do lượng cổ phần chào bán ra công chúng đạt thấp so với phương án cổ phần hóa doanh nghiệp với một số lý do sau:

Quá trình cổ phần hóa và thoái vốn nhà nước giai đoạn 2011 - 2016 chịu tác động từ những diễn biến bất lợi của kinh tế thế giới và khu vực, đặc biệt là giai đoạn 2011-2013 là giai đoạn Việt Nam chịu tác động mạnh từ cuộc khủng hoảng tài chính thế giới dẫn tới sự suy giảm của thị trường tài chính, chứng khoán, do đó cũng tác động tiêu cực giảm sức hút thị trường làm chậm tiến độ cổ phần hóa và thoái vốn.

Đối tượng sắp xếp, cổ phần hóa trong giai đoạn 2011 - 2016 hầu hết là các doanh nghiệp có quy mô lớn, phạm vi hoạt động rộng, kinh doanh đa ngành nghề, tài chính phức tạp nên cần có nhiều thời gian chuẩn bị, xử lý. Mặt khác, việc thực hiện cổ phần hóa, tái cơ cấu và thoái vốn Nhà nước đối với các doanh nghiệp có quy mô vốn lớn cần sự tham gia của nhiều nhà đầu tư lớn, có tiềm lực tài chính và năng lực quản trị, đầu tư tốt nên cần nhiều thời gian để chuẩn bị.

Thời điểm phê duyệt Đề án tái cơ cấu của một số Bộ, địa phương tại một số đơn vị còn chậm so với yêu cầu.

Một số Bộ, địa phương, Tập đoàn kinh tế, Tổng công ty nhà nước chưa chỉ đạo quyết liệt và tích cực tổ chức triển khai phương án sắp xếp, cổ phần hóa và thoái vốn.

Nhận thức của một bộ phận cán bộ ở các cấp, các ngành và các doanh nghiệp về chủ trương tái cơ cấu doanh nghiệp tuy đã có chuyển biến nhưng chưa hiểu đúng ý nghĩa quan trọng của việc tái cơ cấu doanh nghiệp đối với phát triển kinh tế - xã hội; còn tư tưởng e ngại, lo lắng về vị trí và vai trò lãnh đạo sau cổ phần hóa, vì vậy ảnh hưởng đến tiến độ của quá trình cổ phần hóa, tái cơ cấu thời gian đầu thực hiện Đề án.

Để đẩy nhanh công tác cổ phần hóa, thoái vốn DNNN trong giai đoạn tới, ngày 28/12/2016, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 58/2016/QĐ-TTg về Tiêu chí phân loại doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp có vốn nhà nước và Danh mục doanh nghiệp nhà nước thực hiện sắp xếp giai đoạn 2016 - 2020, trong đó giao trách nhiệm cụ thể cho từng Bộ, ngành, địa phương, Tập đoàn, Tổng công ty thực hiện cổ phần hóa các doanh nghiệp theo Danh mục doanh nghiệp nhà nước thực hiện sắp xếp giai đoạn 2016 - 2020.

Thực hiện chỉ đạo của Đảng tại Nghị quyết số 05-NQ/TW ngày 01/11/2016 và Quốc hội tại Nghị quyết số 24/2016/QH14 ngày 08/11/2016, Bộ Tài chính đã xây dựng trình Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 707/QĐ-TTg ngày 25/5/2017 phê duyệt Đề án “Cơ cấu lại DNNN, trọng tâm là tập đoàn kinh tế, tổng công ty nhà nước giai đoạn 2016 - 2020”, trong đó giao trách nhiệm cụ thể cho từng Bộ, ngành, địa phương chỉ đạo, kiểm tra, đôn đốc, giám sát các Tập đoàn kinh tế, Tổng công ty nhà nước, doanh nghiệp nhà nước trực thuộc xây dựng, triển khai Đề án cơ cấu lại DNNN, kịp thời chỉ đạo xử lý hoặc báo cáo cấp có thẩm quyền xử lý các vướng mắc trong quá trình triển khai công tác sắp xếp, cổ phần hóa, thoái vốn, coi đây là nhiệm vụ chính trị quan trọng cần tập trung chỉ đạo hoàn thành theo đúng đề án đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt. Xử lý nghiêm đối với lãnh đạo doanh nghiệp không thực hiện hoặc không hoàn thành kế hoạch cơ cấu lại DNNN đã được duyệt.

Ngoài ra, theo phân công của Chính phủ, Bộ Tài chính đã trình Chính phủ ban hành Nghị định số 126/2017/NĐ-CP ngày 16/11/2017 về chuyển doanh nghiệp nhà nước và công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên do doanh nghiệp nhà nước đầu tư 100% vốn điều lệ thành công ty cổ phần (thay thế các Nghị định số 59/2011/NĐ-CP ngày 18/7/2011, Nghị định số 189/2013/NĐ-CP ngày 20/11/2013 và Nghị định số 116/2015/NĐ-CP ngày 11/11/2015). Khi Nghị định có hiệu thi hành (ngày 01/01/2018) sẽ tạo điều kiện để nâng cao hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp nói chung và chuyển đổi doanh nghiệp 100% vốn nhà nước thành công ty cổ phần nói riêng trong thời gian tới, ngăn chặn thất thoát vốn và tài sản nhà nước tại doanh nghiệp, bám sát và đưa tinh thần Nghị quyết số 12 - NQ/TW ngày 03/6/2017 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng lần thứ 5 (khóa XII) về tiếp tục cơ cấu lại, đổi mới và nâng cao hiệu quả DNNN vào cuộc sống, thúc đẩy thực hiện thành công kế hoạch cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước trong giai đoạn 2017-2020 theo công văn số 991/TTg-ĐMDN ngày 10/7/2017 của Thủ tướng Chính phủ.

HP