Hướng dẫn chi tiết nghiệp vụ pháp điển

Hướng dẫn chi tiết nghiệp vụ pháp điển 28/03/2017 14:20:00 908

Cỡ chữ:A- A+
Tương phản:Giảm Tăng

Hướng dẫn chi tiết nghiệp vụ pháp điển

28/03/2017 14:20:00

KIẾN THỨC CHUNG VÀ KỸ NĂNG THỰC HIỆN PHÁP ĐIỂN

HỆ THỐNG QUY PHẠM PHÁP LUẬT

Cục Kiểm tra văn bản - Bộ Tư pháp

I. MỘT SỐ QUY ĐỊNH CHUNG VỀ XÂY DỰNG BỘ PHÁP ĐIỂN

1. Các hình thức pháp điển hệ thống QPPL

Hiện nay, ở nước ta và trên thế giới cũng còn có các quan niệm khác nhau và các hình thức tiến hành pháp điển hoá khác nhau.

Nhưng nhìn chung về cơ bản có thể chia thành hai hình thức pháp điển hoá chính, đó là:

- Pháp điển về mặt nội dung

- Pháp điển về mặt hình thức.

2. Khái niệm pháp điển hệ thống QPPL

Khoản 1 Điều 2 Pháp lệnh pháp điển quy định: “Pháp điển là việc cơ quan nhà nước rà soát, tập hợp, sắp xếp các quy phạm pháp luật đang còn hiệu lực trong các văn bản quy phạm pháp luật do cơ quan nhà nước ở Trung ương ban hành, trừ Hiến pháp, để xây dựng Bộ pháp điển”.

Theo đó, văn bản quy phạm pháp luật do cơ quan nhà nước ở Trung ương ban hành là các văn bản sau:

- Bộ luật, luật, nghị quyết của Quốc hội; Pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban thường vụ Quốc hội; nghị quyết liên tịch giữa Ủy ban thường vụ Quốc hội với Đoàn Chủ tịch Ủy ban trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam; Lệnh, quyết định của Chủ tịch nước; Nghị định của Chính phủ; nghị quyết liên tịch giữa Chính phủ với Đoàn Chủ tịch Ủy ban trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam; Quyết định của Thủ tướng Chính phủ; Nghị quyết của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao; Thông tư của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao; thông tư của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao; thông tư của Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ; thông tư liên tịch giữa Chánh án Tòa án nhân dân tối cao với Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao; thông tư liên tịch giữa Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ với Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao; quyết định của Tổng Kiểm toán nhà nước.

- Các văn bản quy phạm pháp luật khác được ban hành trước ngày Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015 có hiệu lực.

3. Thẩm quyền, trách nhiệm thực hiện pháp điển

3.1. Các cơ quan có thẩm quyền thực hiện pháp điển (sau đây gọi là cơ quan thực hiện pháp điển) bao gồm: Bộ, cơ quan ngang bộ; Văn phòng Quốc hội; Văn phòng Chủ tịch nước; Tòa án nhân dân tối cao; Viện kiểm sát nhân dân tối cao; Kiểm toán Nhà nước. Cụ thể, Điều 4 Pháp lệnh pháp điển quy định thẩm quyền thực hiện pháp điển của các cơ quan này như sau:

"- Bộ, cơ quan ngang bộ thực hiện pháp điển đối với QPPL trong văn bản QPPL do mình ban hành hoặc chủ trì soạn thảo; QPPL trong văn bản QPPL do cơ quan, tổ chức, đại biểu Quốc hội trình điều chỉnh những vấn đề thuộc lĩnh vực quản lý nhà nước của mình.

- Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Kiểm toán Nhà nước thực hiện pháp điển đối với quy phạm pháp luật trong văn bản quy phạm pháp luật do mình ban hành hoặc chủ trì soạn thảo; quy phạm pháp luật trong văn bản quy phạm pháp luật do cơ quan, tổ chức, đại biểu Quốc hội trình điều chỉnh những vấn đề thuộc lĩnh vực hoạt động của mình.

- Văn phòng Quốc hội thực hiện pháp điển đối với quy phạm pháp luật trong văn bản quy phạm pháp luật do Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội ban hành điều chỉnh những vấn đề không thuộc thẩm quyền thực hiện pháp điển của cơ quan nhà nước quy định tại khoản 1 và khoản 2 nêu trên.

- Văn phòng Chủ tịch nước thực hiện pháp điển đối với quy phạm pháp luật trong văn bản quy phạm pháp luật do Chủ tịch nước ban hành không thuộc thẩm quyền thực hiện pháp điển của cơ quan nhà nước quy định tại khoản 1 và khoản 2 nêu trên".

Trường hợp cơ quan chủ trì soạn thảo văn bản không đồng thời là cơ quan chủ trì soạn thảo văn bản sửa đổi, bổ sung văn bản đó hoặc có sự chuyển giao chức năng, nhiệm vụ từ cơ quan chủ trì soạn thảo văn bản sang cơ quan khác thì các cơ quan này phối hợp với Bộ Tư pháp thống nhất cơ quan thực hiện pháp điển theo nguyên tắc được quy định tại Điều 4 Pháp lệnh Pháp điển (Điều 3 Thông tư số 13/2014/TT-BTP).

Ngoài ra, tại Quyết định số 843/QĐ-TTg đã phân công cụ thể cơ quan chủ trì thực hiện pháp điển đối với từng đề mục. Theo đó, cơ quan chủ trì có trách nhiệm tổ chức thực hiện pháp điển đề mục; thẩm quyền pháp điển các QPPL thuộc nội dung của đề mục được xác định theo Điều 4 Pháp lệnh pháp điển.

3.2. Trách nhiệm của các cơ quan thực hiện pháp điển:

a) Các cơ quan thực hiện pháp điển có trách nhiệm tổ chức thực hiện công tác pháp điển theo quy định tại Điều 16 Nghị định số 63/2014/NĐ-CP:

- Thực hiện pháp điển theo đề mục được Thủ tướng Chính phủ phân công.

- Bảo đảm tính chính xác, đầy đủ các quy phạm pháp luật được pháp điển trong đề mục.

- Kịp thời đề xuất và thực hiện pháp điển quy phạm pháp luật mới, đề mục mới.

- Bảo đảm các điều kiện để thực hiện pháp điển.

b) Tổ chức pháp chế có vai trò là đơn vị đầu mối của cơ quan thực hiện pháp điển. Theo Điều 2 Thông tư số 13/2014/TT-BTP, tổ chức pháp chế thuộc cơ quan thực hiện pháp điển có trách nhiệm tổ chức thực hiện pháp điển thuộc thẩm quyền của mình, cụ thể như sau:

- Giúp Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ lập Đề nghị xây dựng đề mục;

- Chủ trì, phối hợp với các đơn vị liên quan xây dựng, trình Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ ban hành kế hoạch chung để thực hiện pháp điển và phân công đơn vị thực hiện; theo dõi, đôn đốc và kiểm tra việc thực hiện kế hoạch;

- Tổ chức kiểm tra kết quả pháp điển tại Bộ, cơ quan ngang Bộ;

- Chủ trì, phối hợp với các đơn vị liên quan thuộc Bộ, cơ quan ngang Bộ giúp Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ ký hợp đồng và quản lý đội ngũ cộng tác viên thực hiện pháp điển.

4. Cấu trúc của Bộ pháp điển

Điều 6 Pháp lệnh pháp điển quy định về cấu trúc của Bộ pháp điển như sau: Bộ pháp điển được cấu trúc theo các chủ đề. Mỗi chủ đề có một hoặc nhiều đề mục. Trong mỗi đề mục, tùy theo nội dung có thể có phần, chương, mục, tiểu mục, điều, khoản, điểm. Trong Bộ pháp điển, đề mục, phần, chương, mục, tiểu mục, điều được đánh số thứ tự, trường hợp có liên quan đến nội dung khác của Bộ pháp điển thì phải được chỉ dẫn. Trong đó:

- Chủ đề là bộ phận cấu thành của Bộ pháp điển, trong đó chứa đựng quy phạm pháp luật điều chỉnh các nhóm quan hệ xã hội nhất định được xác định theo lĩnh vực. Tên mỗi chủ đề được xác lập theo quy định tại Điều 7 Pháp lệnh pháp điển.

Ví dụ: Pháp lệnh pháp điển quy định các chủ đề được sắp xếp theo thứ tự như sau: Chủ đề số 1: An ninh, quốc gia; Chủ đề số 2: Bảo hiểm; Chủ đề số 3: Bưu chính, viễn thông…

Trong đó, chủ đề số 2 “Bảo hiểm” chứa đựng các quy phạm pháp luật điều chỉnh nhóm quan hệ xã hội về bảo hiểm như: bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, kinh doanh bảo hiểm.

- Đề mục là bộ phận cấu thành chủ đề, trong đó chứa đựng quy phạm pháp luật điều chỉnh một nhóm quan hệ xã hội nhất định. Tên gọi của đề mục là tên gọi của văn bản có hiệu lực pháp lý cao nhất điều chỉnh một nhóm quan hệ xã hội thuộc chủ đề. Theo tên gọi của từng đề mục, các đề mục trong mỗi chủ đề được sắp xếp theo thứ tự bảng chữ cái tiếng Việt và được đánh số theo chữ số Ả rập, bắt đầu từ số 1.

Quyết định số 843/QĐ-TTg ngày 06/6/2014 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Danh mục các đề mục trong mỗi chủ đề và phân công cơ quan thực hiện pháp điển theo các đề mục (265 đề mục thuộc 45 chủ đề) (sau đây gọi tắt là Quyết định số 843/QĐ-TTg)

Ví dụ: Trong chủ đề “Dân sự” (chủ đề số 9) có các đề mục sau:

Đề mục “Dân sự” (thứ tự 1): tên gọi của đề mục là tên gọi của văn bản có hiệu lực pháp lý cao nhất là Bộ luật Dân sự;

Đề mục “Đăng ký giao dịch bảo đảm” (thứ tự số 2): tên gọi của đề mục là tên gọi của văn bản có hiệu lực pháp lý cao nhất là Nghị định số 83/2010/NĐ-CP ngày 23 tháng 7 năm 2010 của Chính phủ về đăng ký giao dịch bảo đảm;

Đề mục “Giao dịch bảo đảm”: tên gọi của đề mục là tên gọi của văn bản có hiệu lực pháp lý cao nhất là Nghị định số 163/2006/NĐ-CP ngày 29/12/2006 của Chính phủ về giao dịch bảo đảm.

Đề mục …

- Phần, chương, mục, tiểu mục là bộ phận cấu thành của đề mục, chứa đựng các điều của Bộ pháp điển. Các phần, chương, mục của đề mục được cấu trúc theo các phần, chương, mục, tiểu mục của văn bản có tên gọi được sử dụng làm tên gọi của đề mục. Việc bổ sung phần, chương, mục, tiểu mục được thực hiện theo quy định tại Điều 12 của Nghị định số 63/2013/NĐ-CP.

- Điều là bộ phận cấu thành của phần, chương, mục, tiểu mục trong Bộ pháp điển; nội dung của mỗi điều trong Bộ pháp điển là nội dung của điều tương ứng trong văn bản được pháp điển. Số của điều trong Bộ pháp điển được thực hiện theo quy định tại Khoản 3, Khoản 6 Điều 4 Nghị định số 63/2013/NĐ-CP. Các điều trong Bộ pháp điển được ghi chú để chỉ rõ điều của văn bản quy phạm pháp luật được pháp điển.

5. Bổ sung chủ đề mới

Điều 7 Pháp lệnh pháp điển quy định Bộ pháp điển gồm có 45 chủ đề điều chỉnh 45 nhóm quan hệ xã hội. Trường hợp có văn bản quy phạm pháp luật điều chỉnh nhóm quan hệ xã hội chưa thuộc các chủ đề đã có trong Bộ pháp điển thì Bộ trưởng Bộ Tư pháp tự mình hoặc theo đề xuất của cơ quan thực hiện pháp điển đề nghị Chính phủ quyết định bổ sung chủ đề. Chủ đề bổ sung được sắp xếp và đánh số thứ tự kế tiếp sau chủ đề cuối cùng đã có trong Bộ pháp điển (Khoản 1 Điều 8 Pháp lệnh pháp điển và Điều 1 Nghị định số 63/2013/NĐ-CP).

6. Bổ sung đề mục mới

Khoản 2 Điều 13 Pháp lệnh pháp điển quy định: Trong trường hợp có quy phạm pháp luật mới được ban hành chưa thuộc đề mục đã có trong Bộ pháp điển, cơ quan được quy định tại Điều 4 Pháp lệnh pháp điển đề xuất tên đề mục, vị trí của đề mục gửi Bộ Tư pháp. Bộ Tư pháp xem xét, trình Thủ tướng Chính phủ quyết định bổ sung đề mục và phân công cơ quan thực hiện.

Khoản 1 Điều 20 Nghị định số 63/2013/NĐ-CP quy định chậm nhất là 5 ngày làm việc, kể từ ngày văn bản mới được thông qua hoặc ban hành, cơ quan thực hiện pháp điển có trách nhiệm lập Đề nghị xây dựng đề mục mới gửi Bộ Tư pháp. Việc đề nghị xây dựng đề mục được thực hiện theo quy định tại Khoản 1 Điều 7 Nghị định số 63/2013/NĐ-CP. Theo đó, Hồ sơ đề nghị xây dựng đề mục mới bao gồm: Tên gọi của đề mục (xác định dựa trên tên văn bản có giá trị pháp lý cao nhất điều chỉnh một nhóm quan hệ xã hội nhất định); danh mục các văn bản dự kiến đưa vào đề mục được sắp xếp theo thứ bậc hiệu lực pháp lý từ cao xuống thấp theo mẫu số 01 kèm theo Thông tư số 13/2014/TT-BTP; đề xuất sắp xếp đề mục vào chủ đề nào trong Bộ pháp điển.

7. Nguyên tắc thực hiện pháp điển

Điều 3 Pháp lệnh pháp điển hệ thống quy phạm pháp luật quy định việc thực hiện pháp điển phải tuân thủ các nguyên tắc sau:

- Không làm thay đổi nội dung của quy phạm pháp luật được pháp điển: Như vậy, nội dung các quy phạm pháp luật của văn bản đưa vào Bộ pháp điển được giữ nguyên mà không được chỉnh sửa.

- Theo thứ bậc hiệu lực pháp lý của quy phạm pháp luật từ cao xuống thấp: Theo quy định của Nghị định số 63/2013/NĐ-CP thì đơn vị nhỏ nhất của văn bản được bóc tách ra để pháp điển vào Bộ pháp điển là theo Điều. Như vậy, các Điều quy định về cùng một nội dung khi đưa vào Bộ pháp cần được sắp xếp theo thứ bậc hiệu lực pháp lý của quy phạm pháp luật từ cao xuống thấp. Trường hợp các điều này thuộc các văn bản quy phạm pháp luật có cùng cấp hiệu lực thì được sắp xếp theo trật tự thời gian ban hành của văn bản.

- Cập nhật quy phạm pháp luật mới được ban hành vào Bộ pháp điển và loại bỏ quy phạm pháp luật hết hiệu lực khỏi Bộ pháp điển. Như vậy, các quy phạm pháp luật trong Bộ pháp điển khi được sửa đổi, bổ sung, hủy bỏ, bãi bỏ thì các cơ quan thực hiện pháp điển có trách nhiệm phối hợp với Bộ Tư pháp để kịp thời cập nhật quy phạm pháp luật mới được ban hành vào Bộ pháp điển và loại bỏ quy phạm pháp luật hết hiệu lực khỏi Bộ pháp điển.

- Tuân thủ thẩm quyền, trình tự, thủ tục thực hiện pháp điển: Như vậy, việc thực hiện pháp điển các quy phạm pháp luật phải được bảo đảm đúng theo quy định của Pháp lệnh pháp điển và Nghị định số 63/2013/NĐ-CP về thẩm quyền, trách nhiệm của các cơ quan thực hiện pháp điển cũng như trình tự, thủ tục thực hiện pháp điển.

8. Lộ trình xây dựng Bộ pháp điển

Ngày 29/7/2014, Thủ tướng Chính phủ ký ban hành Quyết định số 1267/QĐ-TTg về việc phê duyệt Đề án xây dựng Bộ pháp điển. Đề án xây dựng Bộ pháp điển nhằm xác định lộ trình thực hiện pháp điển các chủ đề một cách khoa học và phù hợp với thực trạng hệ thống pháp luật cũng như để các cơ quan thực hiện pháp điển xây dựng kế hoạch tổ chức thực hiện pháp điển đồng bộ, hiệu quả. Đề án xác định lộ trình xây dựng Bộ pháp điển như sau:

- Giai đoạn 1 (2014-2017)

Thực hiện pháp điển xong 08 chủ đề gồm: Dân tộc; Hành chính tư pháp; Ngân hàng, tiền tệ; Tài chính; Thống kê; Tôn giáo, tín ngưỡng; Tương trợ tư pháp; Văn thư, lưu trữ.

- Giai đoạn 2 (2018-2020)

Thực hiện pháp điển xong 27 chủ đề gồm: Bưu chính, viễn thông; Bổ trợ tư pháp; Cán bộ, công chức, viên chức; Chính sách xã hội; Công nghiệp; Dân số, gia đình, trẻ em, bình đẳng giới; Dân sự; Đất đai; Doanh nghiệp, hợp tác xã); Giáo dục, đào tạo; Giao thông, vận tải; Hình sự; Kế toán, kiểm toán; Khiếu nại, tố cáo; Khoa học, công nghệ; Môi trường; Tài nguyên; Tài sản công, nợ công, dự trữ nhà nước; Thi đua, khen thưởng, các danh hiệu vinh dự nhà nước; Thi hành án; Thông tin, báo chí, xuất bản; Thuế, phí, lệ phí, các khoản thu khác; Thương mại, đầu tư, chứng khoán; Tổ chức chính trị - xã hội, hội; Văn hóa, thể thao, du lịch; Xây dựng, nhà ở, Xây dựng pháp luật và thi hành pháp luật; đô thị.

- Giai đoạn 3 (2021-2023)

Thực hiện pháp điển xong 10 chủ đề gồm: An ninh quốc gia; Bảo hiểm; Lao động; Ngoại giao, điều ước quốc tế; Nông nghiệp, nông thôn; Quốc phòng; Tổ chức bộ máy nhà nước; Tố tụng và các phương thức giải quyết tranh chấp; Trật tự an toàn xã hội; Y tế, dược.

Các cơ quan thực hiện pháp điển có trách nhiệm tổ chức thực hiện pháp điển các đề mục bảo đảm hoàn thành đúng lộ trình, đúng tiến độ. Bộ Tư pháp chủ trì, phối hợp với các cơ quan thực hiện pháp điển trình Chính phủ quyết định thông qua kết quả pháp điển theo từng chủ đề. Trong trường hợp cần thiết, Bộ trưởng Bộ Tư pháp có thể đề nghị Chính phủ xem xét thông qua một hoặc một số đề mục trong mỗi chủ đề.

Tại Đề án ban hành kèm theo Quyết định số 1267/QĐ-TTg, ngày 29/7/2014, Thủ tướng Chính phủ yêu cầu các cơ quan thực hiện pháp điển ưu tiên pháp điển các đề mục thuộc các lĩnh vực có hệ thống văn bản quy phạm pháp luật tương đối ổn định, nội dung liên quan đến quyền, lợi ích của người dân, doanh nghiệp. Do đó, đối với các đề mục mà văn bản QPPL thuộc nội dung của đề mục ổn định, cần đưa vào kế hoạch để thực hiện pháp điển sớm; đối với các đề mục mà văn bản QPPL thuộc nội dung của đề mục có mâu thuẫn, chồng chéo, không phù hợp, cần được xử lý sớm để phục vụ công tác pháp điển.

9. Giá trị sử dụng Bộ pháp điển

Điều 5 Pháp lệnh pháp điển quy định Bộ pháp điển được xây dựng theo quy định tại Pháp lệnh pháp điển là Bộ pháp điển chính thức của Nhà nước, được sử dụng để tra cứu trong áp dụng và thực hiện pháp luật".

II. QUY TRÌNH THỰC HIỆN PHÁP ĐIỂN THEO ĐỀ MỤC

1. Xây dựng Kế hoạch thực hiện pháp điển

1.1. Xây dựng kế hoạch chung để thực hiện pháp điển

Căn cứ Quyết định số 843/QĐ-TTg ngày 06/6/2014 phê duyệt Danh mục các đề mục trong mỗi chủ đề và phân công cơ quan thực hiện pháp điển theo các đề mục và Quyết định số 1267/QĐ-TTg ngày 29/7/2014 phê duyệt Đề án xây dựng Bộ pháp điển của Thủ tướng Chính phủ và căn cứ vào thẩm quyền thực hiện pháp điển của cơ quan theo quy định,tổ chức pháp chế xây dựng, trình Thủ trưởng cơ quan thực hiện pháp điển ban hành kế hoạch chung để thực hiện pháp điển của cơ quan thực hiện pháp điển và phân công đơn vị thực hiện (Khoản 1 Điều 5 Thông tư số 13/2014/TT-BTP). Về cơ bản, kế hoạch chung gồm các nội dung như: phân công đơn vị trực thuộc chủ trì thực hiện pháp điển các đề mục thuộc thẩm quyền trách nhiệm của cơ quan; Thời hạn hoàn thành các đề mục; Trách nhiệm của các đơn vị trong việc pháp điển các QPPL thuộc thẩm quyền pháp điển của cơ quan mình vào đề mục do cơ quan khác chủ trì thực hiện; Trách nhiệm của các đơn vị trong việc phối hợp thực hiện pháp điển các đề mục; các điều kiện bảo đảm phục vụ công tác pháp điển của cơ quan.

1.2. Xây dựng kế hoạch thực hiện pháp điển đối với mỗi đề mục

Cơ quan được phân công chủ trì thực hiện pháp điển phối hợp với cơ quan liên quan xây dựng, ban hành kế hoạch thực hiện pháp điển đối với mỗi đề mục. Kế hoạch thực hiện pháp điển xác định cụ thể cơ quan thực hiện pháp điển đối với từng văn bản trong đề mục (Khoản 2 Điều 5 Thông tư số 13/2014/TT-BTP). Tuy nhiên, thực tế các đề mục có sự phức tạp về hệ thống quy phạm pháp luật sử dụng để pháp điển, có nhiều cơ quan cùng tham gia thực hiện một đề mục, hay đề mục có số lượng các quy phạm pháp luật thuộc đề mục nhiều hay ít thì các kế hoạch thực hiện pháp điển đối với mỗi đề mục cần bảo đảm các nội dung cơ bản sau: xác định được phạm vi các văn bản quy phạm pháp luật vào đề mục; xác định các cơ quan có thẩm quyền, trách nhiệm thực hiện pháp điển đối với các văn bản sử dụng pháp điển vào đề mục; xác định thời hạn pháp điển hoàn thành đề mục, thời hạn pháp điển hoàn thành các phần của các cơ quan khác.

2. Thu thập văn bản

2.1. Văn bản được thu thập để pháp điển

Khoản 1 Điều 8 Nghị định số 63/2013/NĐ-CP quy định cơ quan thực hiện pháp điển thu thập các văn bản sau đây:

“a) Các văn bản thuộc nội dung của đề mục gồm: Văn bản có tên gọi được sử dụng làm tên gọi của đề mục và các văn bản quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành văn bản đó;

b) Các văn bản có nội dung liên quan đến các văn bản quy định tại điểm a khoản này”.

Ví dụ: Văn bản sử dụng để pháp điển đối với đề mục Pháp điển hệ thống quy phạm pháp luật gồm các văn bản sau:

- Văn bản thuộc nội dung của đề mục gồm: Pháp lệnh pháp điển; Nghị định số 63/2013/NĐ-CP; Thông tư liên tịch số 192/2013/TTLT-BTC-BTP; Thông tư số 13/2014/TT-BTP,…

- Văn bản có nội dung liên quan: Pháp lệnh hợp nhất văn bản năm 2012,...

2.2. Nguồn thu thập văn bản sử dụng để pháp điển

Khoản 2 Điều 8 Nghị định số 63/2013/NĐ-CP quy định các văn bản sử dụng để pháp điển được thu thập theo thứ tự ưu tiên sau: “Các văn bản quy định tại Khoản 1 Điều này được thu thập theo thứ tự ưu tiên sau: Bản gốc văn bản; bản chính văn bản; bản đăng trên Công báo; bản sao y bản chính; bản sao lục của cơ quan, người có thẩm quyền; văn bản hợp nhất; văn bản đã được rà soát, hệ thống hóa được cơ quan có thẩm quyền công bố”.

Tuy nhiên, hiện nay, việc pháp điển đề mục được thực hiện trên Phần mềm pháp điển hệ thống QPPL. Theo đó, văn bản sử dụng để pháp điển được thu thập trên Cơ sở dữ liệu quốc gia về pháp luật. Để thực hiện pháp điển theo đề mục trên Phần mềm pháp điển bảo đảm chất lượng và đúng tiến độ, các văn bản sử dụng để pháp điển cần được cập nhật đầy đủ, chính xác trên Cơ sở dữ liệu quốc gia về pháp luật. Do đó, các cơ quan cần thực hiện tốt công tác cập nhật văn bản trên Cơ sở dữ liệu quốc gia về pháp luật theo quy định tại Nghị định số 52/2015/NĐ-CP.

2.3. Thẩm quyền, trách nhiệm thu thập văn bản sử dụng để pháp điển

Cơ quan có thẩm quyền, trách nhiệm thực hiện pháp điển đối với văn bản nào thì có trách nhiệm thu thập văn bản đó, đồng thời thu thập văn bản có nội dung liên quan đến văn bản mà cơ quan mình thực hiện pháp điển.

Ví dụ: đối với đề mục Pháp điển hệ thống quy phạm pháp luật, Bộ Tư pháp có trách nhiệm thu thập các văn bản thuộc thẩm quyền pháp điển của mình: Pháp lệnh pháp điển; Nghị định số 63/2013/NĐ-CP; Thông tư số 13/2014/TT-BTP, đồng thời thu thập văn bản có nội dung liên quan đến văn bản mà Bộ Tư pháp thực hiện pháp điển như: Pháp lệnh hợp nhất văn bản quy phạm pháp luật. Bộ Tài chính các trách nhiệm thu thập Thông tư liên tịch số 192/2013/TTLT-BTC-BTP.

3. Rà soát, xác định và xử lý nội dung mâu thuẫn, chồng chéo hoặc không phù hợp với thực tế

3.1. Rà soát, xác định nội dung mâu thuẫn, chồng chéo hoặc không còn phù hợp với thực tế

Sau khi thu thập văn bản có nội dung thuộc đề mục, các có quan có trách nhiệm thực hiện rà soát, xác định xem có nội dung mâu thuẫn, chồng chế hoặc không còn phù hợp để tiến hành xử lý, kiến nghị xử lý trước khi tiến hành thự chiện pháp điển. Cụ thể như sau: Khoản 2 Điều 6 Thông tư số 13/2014/TT-BTP quy định: “Trên cơ sở kết quả rà soát văn bản, cơ quan thực hiện pháp điển xác định nội dung mâu thuẫn, chồng chéo hoặc không còn phù hợp với thực tế để xử lý, kiến nghị xử lý theo quy định tại Điều 10 Nghị định số 63/2013/NĐ-CP. Trường hợp kết quả rà soát văn bản phản ánh không cập nhật tình trạng pháp lý của văn bản hoặc văn bản chưa được rà soát thì tiến hành rà soát hoặc kiến nghị rà soát văn bản theo quy định”. Như vậy, các văn bản thuộc nội dung của đề mục trước khi pháp điển phải được thực hiện rà soát theo quy định. Đối với văn bản có nội dung liên quan, pháp luật hiện hành không quy định, yêu cầu phải rà soát.

3.2. Xử lý nội dung mâu thuẫn, chồng chéo hoặc không còn phù hợp với thực tế

Sau khi rà soát văn bản để phục vụ công tác pháp điển hoặc trong quá trình thực hiện pháp điển, cơ quan thực hiện pháp điển phát hiện có nội dung mâu thuẫn, chồng chéo hoặc không còn phù hợp với thực tế thì việc xử lý nội dung này được thực hiện theo quy định tại Điều 10 Nghị định số 63/2013/NĐ-CP. Cụ thể như sau:

- Trường hợp phát hiện có quy phạm pháp luật mâu thuẫn, chồng chéo hoặc không còn phù hợp với thực tế trong văn bản do mình ban hành hoặc trong văn bản liên tịch do mình chủ trì soạn thảo, thì cơ quan thực hiện pháp điển xử lý theo quy định của pháp luật về ban hành văn bản quy phạm pháp luật trước khi sắp xếp các quy phạm pháp luật vào đề mục. Tuy nhiên, các quy định còn hiệu lực nhưng không được áp dụng trên thực tế có thể không đưa vào pháp điển, ví dụ: hết đối tượng điều chỉnh; hết thời hạn áp dụng được quy định trong văn bản; trong văn bản không có tính QPPL mà được ban hành dưới hình thức văn bản QPPL;…

- Trường hợp phát hiện có quy phạm pháp luật mâu thuẫn, chồng chéo hoặc không còn phù hợp với thực tế trong các văn bản không thuộc trường hợp nêu trên thì cơ quan thực hiện pháp điển vẫn tiến hành việc pháp điển, đồng thời kiến nghị cơ quan có thẩm quyền xử lý các quy phạm pháp luật mâu thuẫn, chồng chéo hoặc không còn phù hợp với thực tế theo quy định của pháp luật về ban hành văn bản quy phạm pháp luật.

4. Thực hiện pháp điển theo đề mục

4.1. Xây dựng cấu trúc đề mục

a) Xác định văn bản quy phạm pháp luật có hiệu lực pháp lý cao nhất để xây dựng cấu trúc đề mục

Khoản 1 Điều 9 Pháp lệnh pháp điển quy định "Xây dựng cấu trúc của đề mục dựa theo cấu trúc của văn bản quy phạm pháp luật có hiệu lực pháp lý cao nhất điều chỉnh nhóm quan hệ xã hội thuộc nội dung của đề mục".

Như vậy, người thực hiện pháp điển cần xác định văn bản quy phạm pháp luật có hiệu lực pháp lý cao nhất trong các văn bản sử dụng để pháp điển đối với đề mục đó. Trường hợp văn bản quy phạm pháp luật có hiệu lực pháp lý cao nhất đó đã bị văn bản khác làm thay đổi cấu trúc (sửa đổi, bổ sung, bãi bỏ, hủy bỏ phần, chương hoặc mục) thì phải tiến hành hợp nhất các văn bản này theo quy định của Pháp lệnh hợp nhất văn bản quy phạm pháp luật vì khi đó, cấu trúc của đề mục dựa trên cấu trúc của văn bản hợp nhất.

b) Xác định những nội dung không pháp điển

Điều 9 Nghị định số 63/2013/NĐ-CP quy định nội dung không pháp điển bao gồm: Các quy phạm pháp luật đã hết hiệu lực vào thời điểm cơ quan thực hiện pháp điển tiến hành việc pháp điển; Quốc hiệu, căn cứ ban hành, lời nói đầu, phần về quyền hạn, chức vụ, họ tên và chữ ký của người có thẩm quyền, dấu của cơ quan, tổ chức, nơi nhận văn bản.

c) Thực hiện xây dựng cấu trúc đề mục

Trên cơ sở cấu trúc của văn bản có tên gọi được sử dụng làm tên gọi của đề mục hoặc văn bản hợp nhất (đối với trường hợp phải hợp nhất), người thực hiện pháp điển tiến hành xây dựng cấu trúc đề mục trên cơ sở cấu trúc của các phần, chương, mục trong văn bản đó (tên gọi và số thứ tự của phần, chương, mục trong đề mục được giữ nguyên).

Trường hợp có văn bản hủy bỏ, bãi bỏ phần, chương, mục, điều, khoản, điểm của văn bản có tên gọi được sử dụng làm tên gọi của đề mục thì ghi chú về nội dung bị hủy bỏ, bãi bỏ, số, ký hiệu và thời điểm có hiệu lực của văn bản hủy bỏ, bãi bỏ. Trường hợp này, số và tên của các phần, chương, mục bị hủy bỏ, bãi bỏ vẫn được đưa vào xây dựng cấu trúc đề mục. Tuy nhiên, do các nội dung trong phần, chương, mục bị hủy bỏ, bãi bỏ không còn hiệu lực thì không đưa vào pháp điển nhưng phải ghi chú về nội dung bị hủy bỏ, bãi bỏ, số, ký hiệu và thời điểm có hiệu lực của văn bản hủy bỏ, bãi bỏ.

4.2. Đưa nội dung của văn bản quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành vào đề mục

Các điều trong văn bản quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành được thực hiện pháp điển vào đề mục như thế nào?

Theo Khoản 2 Điều 11 Nghị định số 63/2013/NĐ-CP thì việc pháp điển đối với các điều trong văn bản quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành để xây dựng đề mục được thực hiện như sau:

a) Lựa chọn, sắp xếp các điều quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành ngay sau điều được quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành.

Ví dụ:

Điều 44.7.PL.9. Pháp điển theo đề mục

  (Điều 9 Pháp lệnh số 03/2012/UBTVQH13, có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/7/2013)

  …

    Điều 44.7.NĐ.1.8. Thu thập văn bản

    (Điều 8 Nghị định số 63/2013/NĐ-CP, có hiệu lực thi hành kể từ ngày 15/8/2013)

Điều 44.7.TT.2.6. Thu thập văn bản và xử lý, kiến nghị xử lý các quy phạm pháp luật mâu thuẫn, chồng chéo hoặc không còn phù hợp với thực tế

(Điều 6 Thông tư số 13/2014/TT-BTP, có hiệu lực thi hành kể từ ngày 15/6/2014)

      …

b) Trường hợp có nhiều điều của một văn bản cùng quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành một điều của văn bản có giá trị pháp lý cao hơn thì sắp xếp các điều này ngay sau điều được quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành lần lượt theo số thứ tự của các điều trong văn bản quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành.

Ví dụ:

Điều 44.7.PL.9. Pháp điển theo đề mục

(Điều 9 Pháp lệnh số 03/2012/UBTVQH13, có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/7/2013)

Điều 44.7.NĐ.1.8. Thu thập văn bản

(Điều 8 Nghị định số 63/2013/NĐ-CP, có hiệu lực thi hành kể từ ngày 15/8/2013)

Điều 44.7.NĐ.1.10. Xử lý, kiến nghị xử lý các quy phạm pháp luật mâu thuẫn, chồng chéo hoặc không còn phù hợp với thực tế

(Điều 10 Nghị định số 63/2013/NĐ-CP, có hiệu lực thi hành kể từ ngày 15/8/2013)

Điều 44.7.NĐ.1.11. Pháp điển các quy phạm pháp luật để xây dựng đề mục

(Điều 11 Nghị định số 63/2013/NĐ-CP, có hiệu lực thi hành kể từ ngày 15/8/2013)

c) Trường hợp một điều của văn bản quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành nhiều điều của một văn bản có giá trị pháp lý cao hơn thì sắp xếp điều này ngay sau điều được quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành đầu tiên; đối với các điều còn lại thì được chỉ dẫn đến điều quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành đã được sắp xếp ở trên.

Ví dụ: Điều 6 Thông tư số 13/2014/TT-BTP hướng dẫn Điều 8 và Điều 10 Nghị định số 63/2013/NĐ-CP được pháp điển như sau:

Điều 44.7.NĐ.1.8. Thu thập văn bản

(Điều 8 Nghị định số 63/2013/NĐ-CP, có hiệu lực thi hành kể từ ngày 15/8/2013)

Điều 44.7.TT.2.6. Thu thập văn bản và xử lý, kiến nghị xử lý các quy phạm pháp luật mâu thuẫn, chồng chéo hoặc không còn phù hợp với thực tế

(Điều 6 Thông tư số 13/2014/TT-BTP, có hiệu lực thi hành kể từ ngày 15/6/2014)

(Điều này có nội dung liên quan đến Điều 44.7.NĐ.1.10. Xử lý, kiến nghị xử lý các quy phạm pháp luật mâu thuẫn, chồng chéo hoặc không còn phù hợp với thực tế)

Điều

Điều 44.7.NĐ.1.10. Xử lý, kiến nghị xử lý các quy phạm pháp luật mâu thuẫn, chồng chéo hoặc không còn phù hợp với thực tế

(Điều 10 Nghị định số 63/2013/NĐ-CP, có hiệu lực thi hành kể từ ngày 15/8/2013)

(Điều này có nội dung liên quan đến Điều 44.7.TT.2.6. Thu thập văn bản và xử lý, kiến nghị xử lý các quy phạm pháp luật mâu thuẫn, chồng chéo hoặc không còn phù hợp với thực tế)

d) Trường hợp một điều của văn bản quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành nhiều điều của nhiều văn bản có giá trị pháp lý cao hơn thì sắp xếp điều này ngay sau điều được quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành có tỷ lệ nội dung được quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành nhiều nhất. Trong trường hợp tỷ lệ nội dung của điều này quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành các điều của văn bản có giá trị pháp lý cao hơn là tương đương nhau thì sắp xếp điều này ngay sau điều trong văn bản được ban hành trước.

e) Trường hợp có nhiều điều của nhiều văn bản quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành một điều của văn bản có giá trị pháp lý cao hơn thì sắp xếp các điều này ngay sau điều được quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành theo thứ bậc hiệu lực pháp lý từ cao xuống thấp hoặc theo thứ tự về thời gian ban hành đối với các văn bản có cùng thứ bậc hiệu lực pháp lý.

Ví dụ:

Điều 45.8.LQ.18. Phòng, chống HIV/AIDS trong cơ sở giáo dục, trường giáo dưỡng, cơ sở chữa bệnh, cơ sở bảo trợ xã hội, trại giam, trại tạm giam

(Điều 18 Luật số 64/2006/QH11, có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/01/2007)

...

Điều 45.8.QĐ.7.2. Quản lý người nhiễm HIV tại các cơ sở

(Điều 2 Quyết định số 96/2007/QĐ-TTg, có hiệu lực thi hành kể từ ngày 10/8/2007)

    ...

    Điều 45.8.TT.1.2. Quản lý nguồn thu Quỹ

(Điều 2 Thông tư số 101/2007/TT-BTC, có hiệu lực thi hành kể từ ngày 17/9/2007)

Điều 45.8.TL.11.3. Nguyên tắc quản lý, chăm sóc, tư vấn, điều trị cho người nhiễm HIV và dự phòng lây nhiễm HIV tại cơ sở quản lý

(Điều 3 Thông tư liên tịch số 02/2015/TTLT-BCA-BQP-BYT, có hiệu lực thi hành kể từ ngày 07/3/2015)

...

F) Trường hợp trong văn bản quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành có điều không hướng dẫn cụ thể điều nào của văn bản được quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành thì sắp xếp điều này ngay sau điều có nội dung liên quan nhất của văn bản được quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành. Việc sắp xếp điều này và các điều quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành của điều có nội dung liên quan gần nhất phải bảo đảm về thứ bậc hiệu lực pháp lý, thời gian ban hành hoặc lần lượt theo số thứ tự của các điều trong cùng một văn bản.

Ví dụ: Điều 9 Nghị định số 63/2013/NĐ-CP không hướng dẫn cụ thể điều nào của Pháp lệnh pháp điển, tuy nhiên được xác định có nội dung liên quan nhất đến Điều 9 Pháp lệnh pháp điển nên được sắp xếp sau Điều này. Điều 8 và Điều 10 Nghị định số 63/2013/NĐ-CP quy định chi tiết Điều 9 Pháp lệnh pháp điển nên Điều 9 Nghị định số 63/2013/NĐ-CP được sắp xếp sau Điều 8 và trước Điều 10 của văn bản này.

Điều 44.7.PL.9. Pháp điển theo đề mục

(Điều 9 Pháp lệnh số 03/2012/UBTVQH13, có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/7/2013)

Điều 44.7.NĐ.1.8. Thu thập văn bản

    (Điều 8 Nghị định số 63/2013/NĐ-CP, có hiệu lực thi hành kể từ ngày 15/8/2013)

    …

    Điều 44.7.NĐ.1.9. Nội dung không pháp điển

    (Điều 9 Nghị định số 63/2013/NĐ-CP, có hiệu lực thi hành kể từ ngày 15/8/2013)

    …

Điều 44.7.NĐ.1.10. Xử lý, kiến nghị xử lý các quy phạm pháp luật mâu thuẫn, chồng chéo hoặc không còn phù hợp với thực tế

(Điều 10 Nghị định số 63/2013/NĐ-CP, có hiệu lực thi hành kể từ ngày 15/8/2013)

    …

4.3. Thực hiện ghi chú trong Bộ pháp điển

a) Điều 5 Nghị định số 63/2013/NĐ-CP và Khoản 2, Khoản 3 Điều 7 Thông tư số 13/2014/TT-BTP quy định:

Ghi chú là việc ghi rõ số thứ tự của điều trong văn bản được pháp điển; số, ký hiệu, tên, ngày tháng năm ban hành, cơ quan ban hành và thời điểm có hiệu lực của văn bản. Tại điều đầu tiên của mỗi văn bản được pháp điển thì phải ghi chú đầy đủ các thành phần nêu trên; đối với các điều tiếp theo, thì chỉ ghi chú số thứ tự của điều; số, ký hiệu, thời điểm có hiệu lực của văn bản. Ghi chú được đặt trong ngoặc đơn ở dòng kế tiếp sau dòng về tên gọi của điều trong Bộ pháp điển bằng chữ in nghiêng, có cỡ chữ nhỏ hơn cỡ chữ của điều được ghi chú.

  Ví dụ 1: (Điều 1 Pháp lệnh số 03/2012/UBTVQH13 về pháp điển hệ thống quy phạm pháp luật ngày 16/4/2012 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/7/2013)

  Ví dụ 2: (Điều 2 Pháp lệnh số 03/2012/UBTVQH13, có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/7/2013)

- Trường hợp nội dung của điều trong văn bản được pháp điển bị sửa đổi, bổ sung thì bổ sung phần ghi chú về nội dung sửa đổi, bổ sung, số, ký hiệu của văn bản sửa đổi, bổ sung và thời điểm có hiệu lực của văn bản.

  Ví dụ 3: (Điều này có nội dung được sửa đổi bởi Điều X, Nghị định Y, có hiệu lực thi hành kể từ ngày ........)

- Trường hợp có văn bản hủy bỏ, bãi bỏ phần, chương, mục, điều, khoản, điểm của văn bản có tên gọi được sử dụng làm tên gọi của đề mục thì khi thực hiện pháp điển, phải ghi chú về nội dung bị hủy bỏ, bãi bỏ, số, ký hiệu và thời điểm có hiệu lực của văn bản hủy bỏ, bãi bỏ.

  Ví dụ 4: (Điều này có nội dung được bãi bỏ bởi Điều X, Nghị định Y, có hiệu lực thi hành kể từ ngày ........)

b) Thực hiện ghi chú khi pháp điển quy phạm pháp luật mới (Khoản 2 Điều 7 Thông tư số 13/2014/TT-BTP):

  - Trường hợp có văn bản bổ sung điều, mục, chương, phần mới vào văn bản đã được pháp điển thì ghi chú về nội dung bổ sung điều, mục, chương, phần, số, ký hiệu và thời điểm có hiệu lực của văn bản bổ sung;

Ví dụ 5: (Điều này được bổ sung bởi Điều số X, Nghị định Y, có hiệu lực thi hành kể từ ngày ........)

- Trường hợp có văn bản hủy bỏ, bãi bỏ phần, chương, mục, điều, khoản, điểm của văn bản đã được pháp điển hoặc bãi bỏ toàn bộ văn bản quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành theo quy định tại Khoản 3 Điều 17 Nghị định số 63/2013/NĐ-CP thì ghi chú về nội dung, văn bản bị hủy bỏ, bãi bỏ, số, ký hiệu và thời điểm có hiệu lực của văn bản hủy bỏ, bãi bỏ;

Ví dụ 6: (Điều này được hủy bỏ bởi Điều số X, Nghị định Y, có hiệu lực thi hành kể từ ngày ........)

- Trường hợp loại bỏ đề mục khỏi Bộ pháp điển theo quy định tại Khoản 6 Điều 17 Nghị định số 63/2013/NĐ-CP thì ghi chú về lý do loại bỏ khỏi Bộ pháp điển;

Ví dụ 7: (Đề mục này được loại bỏ bởi Điều số X, Luật Z, có hiệu lực thi hành kể từ ngày ........)

- Trường hợp có một văn bản mới thay thế toàn bộ nhiều văn bản có tên gọi được sử dụng làm tên gọi của nhiều đề mục theo quy định tại Điểm b Khoản 1 Điều 11 Thông tư số 13, đối với những đề mục bị thay thế nhưng không xây dựng lại thì giữ nguyên tên, số thứ tự của đề mục đó và ghi chú về lý do loại bỏ khỏi Bộ pháp điển.

Ví dụ 8: Ghi chú giống Ví dụ 7 nêu trên

4.4. Xác định các quy phạm pháp luật có nội dung liên quan đến nhau và thực hiện chỉ dẫn trong Bộ pháp điển

a) Điều 13 Nghị định số 63/2013/NĐ-CP quy định việc xác định các quy phạm pháp luật có nội dung liên quan đến nhau thuộc trách nhiệm của cơ quan thực hiện pháp điển và được thực hiện như sau:

- Trường hợp phần, chương, mục, điều của các văn bản được pháp điển có nội dung liên quan đến phần, chương, mục, điều của văn bản khác thì cơ quan thực hiện pháp điển ghi rõ số thứ tự, tên gọi của phần, chương, mục, điều, số, ký hiệu, tên gọi, ngày tháng năm ban hành của văn bản khác đó bằng chữ in nghiêng và được đặt trong ngoặc đơn vào cuối phần, chương, mục, điều của văn bản được pháp điển.

- Trường hợp phần, chương, mục hoặc điều của văn bản được pháp điển có nội dung liên quan đến phần, chương, mục hoặc điều của đề mục đã có trong Bộ pháp điển thì cơ quan thực hiện pháp điển ghi rõ số thứ tự, tên gọi của phần, chương, mục hoặc điều của đề mục đó bằng chữ in nghiêng và được đặt trong ngoặc đơn, ở cuối phần, chương, mục, điều của văn bản được pháp điển.

b) Điều 6 Nghị định số 63/2013/NĐ-CP quy định "Chỉ dẫn là việc chỉ ra các đề mục, phần, chương, mục hoặc điều của Bộ pháp điển có nội dung liên quan trực tiếp đến nhau. Tùy từng trường hợp, việc chỉ dẫn được thực hiện giữa các đề mục, phần, chương, mục hoặc điều của Bộ pháp điển. Chỉ dẫn được đặt trong ngoặc đơn, ngay sau nội dung được chỉ dẫn bằng chữ in nghiêng, có cỡ chữ nhỏ hơn cỡ chữ của nội dung được chỉ dẫn. Căn cứ kết quả xác định các quy phạm pháp luật có nội dung liên quan đến nhau do cơ quan thực hiện pháp điển thực hiện, Bộ Tư pháp thực hiện việc chỉ dẫn trong Bộ pháp điển".

- Trường hợp phần, chương, mục, điều của các văn bản được pháp điển có nội dung liên quan đến phần, chương, mục, điều của văn bản khác thì cơ quan thực hiện pháp điển ghi rõ số thứ tự, tên gọi của phần, chương, mục, điều, số, ký hiệu, tên gọi, ngày tháng năm ban hành của văn bản khác đó bằng chữ in nghiêng và được đặt trong ngoặc đơn vào cuối phần, chương, mục, điều của văn bản được pháp điển.

Ví dụ: (Điều này có nội dung liên quan đến Điều X, Nghị định Y)

- Trường hợp phần, chương, mục hoặc điều của văn bản được pháp điển có nội dung liên quan đến phần, chương, mục hoặc điều của đề mục đã có trong Bộ pháp điển thì cơ quan thực hiện pháp điển ghi rõ số thứ tự, tên gọi của phần, chương, mục hoặc điều của đề mục đó bằng chữ in nghiêng và được đặt trong ngoặc đơn, ở cuối phần, chương, mục, điều của văn bản được pháp điển.

Ví dụ: (Điều này có nội dung liên quan đến Điều X, đề mục số Y, chủ đề số Z)

- Trường hợp văn bản không được bố cục theo điều: Điểm c Khoản 2 Điều 7 Thông tư số 13/2014/TT-BTP ngày 29/4/2014 của Bộ Tư pháp hướng dẫn việc thực hiện pháp điển hệ thống quy phạm pháp luật quy định: “Đối với văn bản không được bố cục theo điều, cơ quan thực hiện pháp điển phân loại nội dung của văn bản và nội dung liên quan nhất trong đề mục để xác định số, tên và nội dung của điều trong đề mục.

4.5. Thực hiện bổ sung phần, chương, mục vào cấu trúc của đề mục

Trong qua trình thực hiện pháp điển, nếu có quy phạm pháp luật không sắp xếp được vào các phần, chương, mục trong đề mục thì có thể thực hiện bổ sung phần, chương, mục. Việc bổ sung phần, chương vào cấu trúc của đề mục được thực hiện theo quy định tại Điều 12 Nghị định số 63/2013/NĐ-CP.

Điều 12 Nghị định số 63/2013/NĐ-CP quy định: “Trường hợp các điều của văn bản quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành không sắp xếp được theo quy định tại Điều 11 của Nghị định này, thì tùy từng trường hợp, cơ quan thực hiện pháp điển bổ sung phần, chương, mục để sắp xếp các quy phạm pháp luật đó. Vị trí phần, chương, mục bổ sung được sắp xếp ngay sau phần, chương, mục có nội dung liên quan nhất”. Tên gọi của phần, chương, mục bổ sung là một cụm từ phản ánh khái quát nội dung chủ yếu của phần, chương, mục.

4.6. Cách ghi số và tên điều trong Bộ pháp điển

a) Cách ghi số điều trong Bộ pháp điển:

Khoản 6 Điều 4 Nghị định số 63/2013/NĐ-CP quy định: Số của điều được sắp xếp theo trật tự sau: Số thứ tự của chủ đề; dấu chấm; số thứ tự của đề mục; dấu chấm; ký hiệu về hình thức của văn bản được pháp điển; dấu chấm; số thứ tự của văn bản đối với văn bản quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành; dấu chấm; số của điều tương ứng trong văn bản được pháp điển; dấu chấm.

- Ký hiệu về hình thức của văn bản như sau: Luật của Quốc hội là LQ; Pháp lệnh của Ủy ban thường vụ Quốc hội là PL; Lệnh của Chủ tịch nước là LC; Quyết định là QĐ; Nghị định của Chính phủ là NĐ; Nghị quyết là NQ; Nghị quyết liên tịch là NL; Chỉ thị là CT; Thông tư là TT; Thông tư liên tịch là TL.

- Số thứ tự của văn bản quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành cùng một hình thức được ghi bằng chữ số Ả Rập, theo thứ tự về thời gian ban hành (từ văn bản được ban hành trước đến văn bản được ban hành sau), bắt đầu từ số 1. Trường hợp mỗi hình thức văn bản quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành chỉ có một văn bản thì ghi số thứ tự văn bản này là số 1 (một).

- Thông tư và Thông tư liên tịch được xác định là hai hình thức văn bản khác nhau (có ký hiệu về hình thức khác nhau), do đó, số thứ tự của văn bản quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành là Thông tư và Thông tư liên tịch được đánh riêng, phân biệt.

Ví dụ 1: Điều 1 Bộ luật dân sự năm 2005 khi được pháp điển vào Bộ pháp điển có số như sau: Điều 9.1.LQ.1.

Trong đó, 9 là số thứ tự của chủ đề (chủ đề 9 là chủ đề Dân sự), 1 là số thứ tự của đề mục (đề mục Dân sự thuộc chủ đề Dân sự có số thứ tự 1), LQ là ký hiệu hình thức văn bản, 1 là số của điều trong văn bản được pháp điển.

dụ 2: Điều 2 Nghị định số 63/2013/NĐ-CP của Chính phủ quy định chi tiết thi hành Pháp lệnh Pháp điển hệ thống quy phạm pháp luật khi được pháp điển vào đề mục có số như sau: Điều 44.7.NĐ.1.2.

Trong đó, 44 là số thứ tự của chủ đề (44 là số chủ đề Xây dựng pháp luật và thi hành pháp luật), 7 là số thứ tự của đề mục "Pháp điển hệ thống quy phạm pháp luật", NĐ là ký hiệu hình thức Nghị định số 63/2013/NĐ-CP, 1 là số thứ tự của Nghị định số 63/2013/NĐ-CP, 2 là số của Điều 2 trong Nghị định số 63/2013/NĐ-CP.

Ví dụ 3: Điều 9.1.LQ.1 trong ví dụ 1 trên có tên gọi là "Nhiệm vụ và phạm vi điều chỉnh của Bộ luật dân sự" (là tên gọi của Điều 1 Bộ luật dân sự năm 2005).

b) Cách ghi tên điều trong Bộ pháp điển

Tên gọi của điều trong Bộ pháp điển là tên gọi của điều tương ứng trong văn bản được pháp điển. Trường hợp, điều trong văn bản sử dụng để pháp điển không có tên thì khi pháp điển điều này vào đề mục thì cũng không ghi tên của điều.

Ví dụ 1: Điều 5. Áp dụng tập quán tại Bộ luật dân sự năm 2015 khi được pháp điển vào Bộ pháp điển có số và tên gọi như sau: Điều 9.1.LQ.5. Áp dụng tập quán.

Trong đó, 9 là số thứ tự của chủ đề Dân sự, 1 là số thứ tự của đề mục Dân sự trong chủ đề Dân sự, LQ là ký hiệu hình thức của Bộ luật dân sự, 5 là số của Điều 5 trong Bộ luật dân sự, “Áp dụng tập quán” là tên gọi của Điều 5 Bộ luật dân sự.

Ví dụ 2: Điều 2 Nghị định số 63/2013/NĐ-CP của Chính phủ quy định chi tiết thi hành Pháp lệnh pháp điển khi được pháp điển vào đề mục có số và tên gọi như sau: Điều 44.7.NĐ.1.2. Đề mục trong Bộ pháp điển.

Trong đó, 44 là số thứ tự của chủ đề Xây dựng pháp luật và thi hành pháp luật, 7 là số thứ tự của đề mục Pháp điển hệ thống quy phạm pháp luật trong chủ đề Xây dựng pháp luật và thi hành pháp luật, NĐ là ký hiệu hình thức của Nghị định số 63/2013/NĐ-CP, 1 là số thứ tự của Nghị định số 63/2013/NĐ-CP, 2 là số của Điều 2 trong Nghị định số 63/2013/NĐ-CP, “Đề mục trong Bộ pháp điển” là tên gọi của Điều 2 Nghị định số 63/2013/NĐ-CP.

c) Cách xác định ký hiệu về hình thức và số thứ tự của các văn bản có cùng hình thức nhưng không cùng thứ bậc hiệu lực pháp lý

- Cách xác định ký hiệu về hình thức của các văn bản có cùng hình thức nhưng không cùng thứ bậc hiệu lực pháp lý như thế nào: Theo quy định tại Khoản 4 Điều 4 Nghị định số 63/2013/NĐ-CP, các văn bản có cùng hình thức nhưng không cùng thứ bậc hiệu lực pháp lý được ký hiệu cùng hình thức. Ví dụ: Quyết định của Thủ tướng Chính phủ và Quyết định của Bộ trưởng, thủ trưởng cơ quan ngang Bộ có ký hiệu là QĐ; Chỉ thị của Thủ tướng Chính phủ và Chỉ thị của Bộ trưởng, thủ trưởng cơ quan ngang Bộ có ký hiệu là CT; Nghị quyết Ủy ban thường vụ của Quốc hội và Nghị quyết của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao có ký hiệu là NQ…

- Cách xác định số thứ tự của các văn bản có cùng hình thức nhưng không cùng thứ bậc hiệu lực pháp lý như thế nào: Theo đó, căn cứ Khoản 5 Điều 4 Nghị định số 63/2013/NĐ-CP, số thứ tự của các văn bản có cùng ký hiệu nhưng không cùng thứ bậc hiệu lực pháp lý được xác định theo thứ tự về thời gian ban hành.

Ví dụ 1: Chỉ thị của Thủ tướng Chính phủ ban hành năm 2005 và Chỉ thị của Bộ trưởng ban hành năm 2006 được pháp điển vào một đề mục thì được ký hiệu về hình thức giống nhau là CT. Chỉ thị của Thủ tướng Chính phủ ban hành trước, được đánh số thứ tự là CT.1, Chỉ thị của Bộ trưởng ban hành sau được đánh số thứ tự là CT.2.

Ví dụ 2: Quyết định của Thủ tướng Chính phủ ban hành năm 2015 và Quyết định của Bộ trưởng ban hành năm 2000 được pháp điển vào một đề mục thì được ký hiệu về hình thức giống nhau là QĐ. Quyết định của Bộ trưởng ban hành trước, được đánh số thứ tự là QĐ.1, Quyết định của Thủ tướng Chính phủ ban hành sau được đánh số thứ tự là QĐ.2. Tuy nhiên, khi thực hiện pháp điển các văn bản trên, cơ quan thực hiện pháp điển tiến hành pháp điển theo thứ bậc hiệu lực pháp lý từ cao xuống thấp (điều trong Quyết định của Thủ tướng Chính phủ được sắp xếp trước điều trong Quyết định của Bộ trưởng khi cùng pháp điển vào sau 1 điều của văn bản có hiệu lực pháp lý cao hơn).

4.7. Những nội dung trong văn bản không đưa vào pháp điển

Điều 9 Nghị định số 63/2013/NĐ-CP quy định nội dung không pháp điển bao gồm: Các quy phạm pháp luật đã hết hiệu lực vào thời điểm cơ quan thực hiện pháp điển tiến hành việc pháp điển; Quốc hiệu, căn cứ ban hành, lời nói đầu, phần về quyền hạn, chức vụ, họ tên và chữ ký của người có thẩm quyền, dấu của cơ quan, tổ chức, nơi nhận văn bản.

Ngoài ra, các quy định có tính quy phạm pháp luật trong văn bản không phải là văn bản quy phạm pháp luật cũng không sử dụng để pháp điển. Bởi vì theo Khoản 1 Điều 2 Pháp lệnh pháp điển thì pháp điển là việc cơ quan nhà nước rà soát, tập hợp, sắp xếp các quy phạm pháp luật đang còn hiệu lực trong các văn bản quy phạm pháp luật do cơ quan nhà nước ở trung ương ban hành, trừ Hiến pháp, để xây dựng Bộ pháp điển. Tức là chỉ thực hiện pháp điển các quy phạm pháp luật trong các văn bản quy phạm pháp luật. Như vậy, không thực hiện pháp điển các quy phạm pháp luật trong văn bản không phải là văn bản quy phạm pháp luật. Hơn nữa, theo quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật thì các quy phạm pháp luật phải được ban hành trong văn bản quy phạm pháp luật nên các văn bản không phải là văn bản quy phạm pháp luật lại quy định các nội dung có tính quy phạm pháp luật là văn bản trái pháp luật và về nguyên tắc các quy định có tính quy phạm pháp luật này không có hiệu lực.

5. Kiểm tra kết quả pháp điển tại cơ quan thực hiện pháp điển

Khoản 3 Điều 2 Thông tư số 13/2014/TT-BTP quy định: Tổ chức pháp chế của cơ quan thực hiện pháp điển có trách nhiệm tổ chức kiểm tra kết quả pháp điển của cơ quan mình. Như vậy, kết quả pháp điển phải được Tổ chức pháp chế của cơ quan mình thực hiện kiểm tra trước khi gửi Bộ Tư pháp để thẩm định hoặc gửi cơ quan khác để pháp điển theo quy định. Trong trường hợp Tổ chức pháp chế là đơn vị chủ trì thực hiện pháp điển, kết quả pháp điển không cần thiết phải thực hiện kiểm tra theo quy định.

Ví dụ: Bộ Công Thương (Cục Công nghiệp địa phương) chủ trì thực hiện pháp điển đề mục Khuyến công. Đề mục này được pháp điển bởi 06 văn bản thuộc thẩm quyền pháp điển của Bộ Công Thương (05 văn bản) và Bộ Tài chính (01 văn bản). Sau khi Cục Công nghiệp đia phương thực hiện pháp điển toàn bộ 05 văn bản thuộc thẩm quyền, kết quả pháp điển được gửi đến Vụ Pháp chế (Bộ Công Thương) để thực hiện kiểm tra kết quả pháp điển theo quy định trước khi gửi Bộ Tài chính (Vụ Ngân sách nhà nước) pháp điển theo thẩm quyền. Sau khi Vụ Ngân sách nhà nước thực hiện pháp điển 01 văn bản thuộc thẩm quyền, kết quả pháp điển được gửi đến Vụ Pháp chế (Bộ Tài chính) để thực hiện kiểm tra kết quả pháp điển theo quy định trước khi gửi sang Bộ Công Thương tổng hợp, hoàn thiện hồ sơ kết quả pháp điển gửi thẩm định. Nội dung kiểm tra cần tập trung vào các vấn đề như: tính chính xác, đầy đủ của các quy phạm pháp luật trong đề mục; sự phù hợp của vị trí quy phạm pháp luật trong đề mục; sự tuân thủ trình tự, thủ tục pháp điển theo đề mục; các vấn đề khác liên quan đến nội dung của đề mục.

6. Tổng hợp, xây dựng Hồ sơ kết quả pháp điển gửi thẩm định

6.1. Tổng hợp Hồ sơ kết quả pháp điển gửi thẩm định

Theo quy định tại Khoản 1 Điều 8 Thông tư số 13/2014/TT-BTP, việc tổng hợp kết quả pháp điển theo đề mục được thực hiện như sau:

- Cơ quan, đơn vị chủ trì thực hiện pháp điển theo đề mục có trách nhiệm tổng hợp kết quả pháp điển; lập Danh mục các văn bản đã được thu thập để pháp điển theo mẫu số 02 kèm theo Thông tư số 13/2014/TT-BTP.

- Cơ quan, đơn vị phối hợp thực hiện pháp điển có trách nhiệm gửi kết quả pháp điển và Danh mục các văn bản đã được thu thập theo mẫu số 02 kèm theo Thông tư số 13/2014/TT-BTP bằng văn bản và bản điện tử đến cơ quan, đơn vị chủ trì thực hiện pháp điển để tổng hợp.

7.1. Xây dựng Hồ sơ kết quả pháp điển gửi thẩm định

Sau khi tổng hợp kết quả pháp điển theo đề mục, cơ quan chủ trì thực hiện pháp điển có trách nhiệm xây dựng Hồ sơ kết quả pháp điển theo quy định tại Khoản 1 Điều 14 Nghị định số 63/2013/NĐ-CP để gửi Bộ Tư pháp tổ chức thẩm định. Bìa Hồ sơ kết quả pháp điển theo mẫu số 03 kèm theo Thông tư số 13/2014/TT-BTP; trang đầu tiên của kết quả pháp điển theo đề mục ghi rõ “Kết quả pháp điển gửi thẩm định”.

Hồ sơ kết quả pháp điển gồm:

- Công văn đề nghị thẩm định;

- Kết quả pháp điển theo đề mục;

- Danh mục các văn bản sử dụng để pháp điển (gồm cả văn bản thuộc nội dung của đề mục và văn bản có nội dung liên quan).

Sau khi xây dựng xong Hồ sơ kết quả pháp điển theo đề mục, cơ quan thực hiện pháp điển gửi 01 bộ Hồ sơ kết quả pháp điển bằng văn bản kèm theo bản điện tử đến Bộ Tư pháp để thẩm định (trường hợp có văn bản được ban hành sau thời điểm gửi kết quả pháp điển và trước thời điểm có kết luận của Hội đồng thẩm định, cơ quan thực hiện pháp điển bổ sung kết quả pháp điển và gửi Hồ sơ bổ sung đến Bộ Tư pháp; trường hợp có văn bản được ban hành sau thời điểm có kết luận của Hội đồng thẩm định thì việc pháp điển bổ sung đối với văn bản này theo quy định về pháp điển quy phạm pháp mới).

7. Thẩm định kết quả pháp điển theo đề mục

7.1. Bộ Tư pháp thực hiện kiểm tra Hồ sơ kết quả pháp điển gửi thẩm định trước khi tiến hành thẩm định

Khoản 3 Điều 14 Nghị định số 63/2013/NĐ-CP quy định: “Cơ quan thực hiện pháp điển có trách nhiệm giải trình, làm rõ những vấn đề còn có ý kiến khác nhau, những vướng mắc liên quan đến việc thực hiện pháp điển theo yêu cầu của Bộ Tư pháp trước khi tiến hành thẩm định kết quả pháp điển”.

Như vậy, sau khi nhận được Hồ sơ kết quả pháp điển theo đề mục của các cơ quan đề nghị thẩm định, Bộ Tư pháp có trách nhiệm kiểm tra toàn bộ Hồ sơ và quy trình, kỹ thuật thực hiện pháp điển đối với đề mục đó. Nếu phát hiện có những sai phạm hoặc có những vấn đề chưa được rõ, Bộ Tư pháp có thẩm quyền, trách nhiệm trao đổi với cơ quan chủ trì để làm rõ hơn hoặc yêu cầu cơ quan chủ trì chỉnh lý hoàn thiện lại Hồ sơ bảo đảm đúng theo quy định.

Cơ quan thực hiện pháp điển có trách nhiệm giải trình, làm rõ những vấn đề còn có ý kiến khác nhau, những vướng mắc liên quan đến việc thực hiện pháp điển theo yêu cầu của Bộ Tư pháp và hoàn thiện lại Hồ sơ. Trường hợp, có vấn đề không thống nhất giữa cơ quan thực hiện pháp điển với Bộ Tư pháp thì Bộ Tư pháp có trách nhiệm tổng hợp, báo cáo xin ý kiến của Hội đồng thẩm định.

7.2. Bộ trưởng Bộ Tư pháp quyết định thành lập Hội đồng thẩm định để thẩm định kết quả pháp điển theo đề mục.

Hội đồng thẩm định do Bộ trưởng Bộ Tư pháp làm Chủ tịch. Thành viên của Hội đồng thẩm định bao gồm đại diện lãnh đạo cơ quan thực hiện pháp điển, Ủy ban pháp luật của Quốc hội, cơ quan, tổ chức có liên quan và một số chuyên gia pháp luật.

Cục Kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật có trách nhiệm giúp Bộ trưởng Bộ Tư pháp tổ chức thẩm định kết quả pháp điển theo đề mục.

7.3. Nội dung thẩm định kết quả pháp điển theo đề mục tập trung vào các vấn đề sau đây:

a) Tính chính xác, đầy đủ của các quy phạm pháp luật trong đề mục;

b) Sự phù hợp của vị trí quy phạm pháp luật trong đề mục;

c) Sự tuân thủ trình tự, thủ tục pháp điển theo đề mục;

d) Các vấn đề khác liên quan đến nội dung của đề mục.

7.4. Kết luận của Hội đồng thẩm định phải được gửi cho cơ quan thực hiện pháp điển trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày nhận được hồ sơ đề nghị thẩm định.

Căn cứ kết luận của Hội đồng thẩm định, cơ quan chủ trì thực hiện pháp điển theo đề mục có trách nhiệm tiếp thu, chỉnh lý và hoàn thiện Hồ sơ kết quả pháp điển sau khi trao đổi, thống nhất với cơ quan phối hợp.

8. Tiếp thu, chỉnh lý và hoàn thiện Hồ sơ kết quả pháp điển theo kết luận của Hội đồng thẩm định

8.1. Tiếp thu, chỉnh lý kết quả pháp điển theo kết luận của Hội đồng thẩm định.

Căn cứ kết luận của Hội đồng thẩm định, cơ quan chủ trì thực hiện pháp điển theo đề mục có trách nhiệm chủ trì, phối hợp với cơ quan phối hợp để tiếp thu, chỉnh lý và hoàn thiện Hồ sơ kết quả pháp điển.

Điều 11 Pháp lệnh pháp điển hệ thống quy phạm pháp luật, Điều 14 Nghị định số 63/2013/NĐ-CP và Điều 10 Thông tư số 13/2014/TT-BTP quy định: Sau khi kết quả pháp điển theo đề mục được thẩm định, trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được kết luận của Hội đồng thẩm định, căn cứ vào kết luận này, cơ quan chủ trì thực hiện pháp điển theo đề mục có trách nhiệm tiếp thu, chỉnh lý và hoàn thiện Hồ sơ kết quả pháp điển sau khi trao đổi, thống nhất với cơ quan thực hiện pháp điển có kết quả pháp điển cần được chỉnh lý. Sau khi tiếp thu, chỉnh lý và hoàn thiện Hồ sơ kết quả pháp điển, cơ quan chủ trì thực hiện pháp điển đề mục gửi Hồ sơ kết quả pháp điển đến Bộ Tư pháp để thực hiện kiểm tra và trình Chính phủ thông qua theo quy định.

8.2. Kiểm tra việc tiếp thu, chỉnh lý kết quả pháp điển theo kết luận của Hội đồng thẩm định

Căn cứ kết luận của Hội đồng thẩm định đề mục, Bộ Tư pháp có trách nhiệm kiểm tra việc tiếp thu, chỉnh lý kết quả pháp điển theo đề mục.

Trường hợp việc chỉnh lý kết quả pháp điển chưa đúng theo kết luận của Hội đồng thẩm định, Bộ Tư pháp yêu cầu cơ quan thực hiện pháp điển tiếp tục chỉnh lý.

Trong thời hạn 5 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được yêu cầu của Bộ Tư pháp, cơ quan thực hiện pháp điển chỉnh lý đề mục, ký xác thực đối với nội dung đã được chỉnh lý và gửi về Bộ Tư pháp.

Trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được kết luận của Hội đồng thẩm định, căn cứ vào kết luận này, cơ quan thực hiện pháp điển chỉnh lý, hoàn thiện kết quả pháp điển theo đề mục.

8.3. Hoàn thiện lại Hồ sơ kết quả pháp điển

Thủ trưởng cơ quan thực hiện pháp điển ký xác thực và đóng dấu cơ quan thực hiện pháp điển vào trang cuối của kết quả pháp điển theo đề mục đã được chỉnh lý, hoàn thiện lại Hồ sơ kết quả pháp điển gửi Bộ Tư pháp theo quy định.

Trường hợp đề mục chỉ do một cơ quan thực hiện pháp điển thì Thủ trưởng cơ quan đó có trách nhiệm ký xác thực và đóng dấu vào kết quả pháp điển của cả đề mục.

Trường hợp đề mục do nhiều cơ quan thực hiện pháp điển thì Thủ trưởng các cơ quan thực hiện pháp điển có trách nhiệm ký xác thực và đóng dấu đối với phần pháp điển của cơ quan mình. Thủ trưởng cơ quan được phân công chủ trì thực hiện pháp điển theo đề mục có trách nhiệm ký xác thực và đóng dấu vào kết quả pháp điển của cả đề mục.

Ký xác thực và đóng dấu được thực hiện ngay sau dòng cuối cùng của kết quả pháp điển.

Ví dụ:

BỘ TƯ PHÁP

Số: /KQPĐ-BTP

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Hà Nội, ngày … tháng … năm …

KẾT QUẢ PHÁP ĐIỂN

Đề mục Nuôi con nuôi

(Đề mục số 5. Nuôi con nuôi thuộc Chủ đề số 15. Hành chính tư pháp).

Chương I

NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG

….

Chương V

ĐIỀU KHOẢN THI HÀNH

Nơi nhận:

- Chính phủ;

- Bộ Tài chính;

- Lưu: VT Bộ Tư pháp; Cục Con nuôi, Cục KTrVB

BỘ TRƯỞNG KÝ XÁC THỰC

(Chữ ký và dấu)

9. Trình Chính phủ thông qua kết quả pháp điển và sắp xếp vào Bộ pháp điển

9.1. Trình Chính phủ thông qua kết quả pháp điển và sắp xếp vào Bộ pháp điển

Khoản 1 Điều 12 Pháp lệnh Pháp điển quy phạm pháp luật quy định: “Chính phủ quyết định thông qua kết quả pháp điển theo từng chủ đề của Bộ pháp điển theo đề nghị của Bộ trưởng Bộ Tư pháp”.

Như vậy, Bộ trưởng Bộ Tư pháp có trách nhiệm tổng hợp kết quả pháp điển theo từng chủ đề và trình Chính phủ quyết định thông qua theo quy định. (trường hợp cần thiết, Bộ trưởng Bộ Tư pháp có thể đề nghị Chính phủ xem xét thông qua một hoặc một số đề mục trong mỗi chủ đề - Quyết định số 1267/QĐ-TTg).

9.2. Sắp xếp vào Bộ pháp điển

Khoản 2 Điều 12 và Điều 14 Pháp lệnh pháp điểnquy định: “Bộ Tư pháp sắp xếp kết quả pháp điển theo chủ đề đã được thông qua vào Bộ pháp điển và đăng tải trên Trang thông tin điện tử pháp điển.

Cơ quan, tổ chức, cá nhân phát hiện có sai sót trong Bộ pháp điển gửi kiến nghị đến Bộ Tư pháp. Bộ Tư pháp có trách nhiệm chủ trì, phối hợp với cơ quan thực hiện pháp điển xem xét kiến nghị để xử lý sai sót.

Bộ pháp điển được duy trì liên tục trên Trang thông tin điện tử pháp điển và được sử dụng miễn phí. Nhà nước giữ bản quyền đối với Bộ pháp điển”.

Như vậy, Bộ Tư pháp có trách nhiệm sắp xếp kết quả pháp điển theo chủ đề đã được thông qua vào Bộ pháp điển và đăng tải trên Trang thông tin điện tử pháp điển.

9. Xử lý sai sót đối với kết quả pháp điển sau khi được thẩm định, Chính phủ thông qua như thế nào?

Điều 14 Pháp lệnh pháp điển quy định: “Cơ quan, tổ chức, cá nhân phát hiện có sai sót trong Bộ pháp điển gửi kiến nghị đến Bộ Tư pháp. Bộ Tư pháp có trách nhiệm chủ trì, phối hợp với cơ quan thực hiện pháp điển xem xét kiến nghị để xử lý sai sót”.

Như vậy, sau khi thẩm định, các cơ quan, tổ chức, cá nhân phát hiện có sai sót trong kết quả pháp điển thì cơ quan có thẩm quyền pháp điển đối với các QPPL bị sai sót phối hợp với Bộ Tư pháp thực hiện xử lý bảo đảm đề mục được pháp điển đầy đủ, chính xác các quy phạm pháp luật đang còn hiệu lực theo quy định, đồng thời thông báo cho cơ quan chủ trì thực hiện pháp điển đề mục đó để biết. Việc pháp điển các quy phạm pháp luật thiếu sót được thực hiện theo quy định về pháp điển quy phạm pháp luật mới.

III. CẬP NHẬT QUY PHẠM PHÁP LUẬT MỚI BAN HÀNH

1. Việc pháp điển, cập nhật quy phạm pháp luật mới vào Bộ pháp điển

Sau ngày có kết luận của Hội đồng thẩm định, nếu có quy phạm pháp luật mới (quy phạm pháp luật được ban hành mới, quy phạm pháp luật sửa đổi, bổ sung, thay thế) hoặc có quy phạm pháp luật bị hủy bỏ, bãi bỏ thuộc đề mục đã có trong chủ đề thì cơ quan thực hiện pháp điển xác định quy phạm pháp luật tương ứng trong đề mục, thực hiện pháp điển quy phạm pháp luật mới, lại bỏ quy phạm pháp luật đã hết hiệu lực và gửi hồ sơ đến Bộ Tư pháp. Việc thực hiện pháp điển được thực hiện theo quy định tại Điều 17 Nghị định số 63/2013/NĐ-CP và Điều 11 Thông tư số 13/2014/TT-BTP. Cụ thể như sau:

- Trường hợp có văn bản mới ban hành sửa đổi, bổ sung nội dung trong phạm vi từng điều của văn bản đã được pháp điển thì cơ quan thực hiện pháp điển xác định vị trí và nội dung của điều trong Bộ pháp điển được sửa đổi, bổ sung; vị trí và nội dung của điều mới trong Bộ pháp điển, đánh số, ký hiệu, tên của điều theo vị trí đã xác định trong Bộ pháp điển, ghi chú, xác định quy phạm pháp luật có nội dung liên quan theo quy định tại Điều 4, Điều 5, Điều 11, Điều 12 và Điều 13 của Nghị định số 63/2013/NĐ-CP. Kết quả pháp điển được gửi đến Bộ Tư pháp để kiểm tra, cập nhật vào Bộ pháp điển theo quy định.

Điểm a khoản 1 Điều 11 Thông tư số 13/2014/TT-BTP quy định trường hợp văn bản có tên gọi được sử dụng làm tên gọi của đề mục được sửa đổi, bổ sung mà không sửa đổi bổ sung tên văn bản thì tên gọi của đề mục là tên gọi của văn bản được sửa đổi, bổ sung. Tường hợp tên của văn bản này được sửa đổi, bổ sung thì tên gọi của đề mục được sửa đổi theo tên của văn bản mới. Cấu trúc của đề mục được xây dựng trên cơ sở bố cục của văn bản hợp nhất các văn bản sửa đổi bổ sung và văn bản được sửa đổi bổ sung.

- Trường hợp có văn bản bổ sung điều mới vào văn bản đã được pháp điển thì cơ quan thực hiện pháp điển xác định vị trí, nội dung của điều mới trong Bộ pháp điển, đánh số, ký hiệu, tên của điều theo vị trí đã xác định trong Bộ pháp điển, ghi chú, xác định quy phạm pháp luật có nội dung liên quan theo quy định tại Điều 4, Điều 5, Điều 11, Điều 12 và Điều 13 của Nghị định số 63/2013/NĐ-CP. Các quy phạm pháp luật bổ sung mới được ghi chú về nội dung bổ sung số, ký hiệu và thời điểm có hiệu lực của văn bản bổ sung theo quy định tại (điểm a khoản 2 Điều 11 Thông tư số 13/2014/TT-BTP). Kết quả pháp điển được gửi đến Bộ Tư pháp để kiểm tra, cập nhật vào Bộ pháp điển theo quy định.

- Trường hợp có văn bản hủy bỏ, bãi bỏ phần, chương, mục, tiểu mục, điều và một phần nội dung của điều trong văn bản đã được pháp điển hoặc bãi bỏ toàn bộ văn bản quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành thì cơ quan thực hiện pháp điển xác định vị trí và nội dung bị hủy bỏ, bãi bỏ trong Bộ pháp điển để loại bỏ ra khỏi Bộ pháp điển. Đối với nội dung bị hủy bỏ, bãi bỏ trong văn bản có giá trị pháp lý cao nhất của đề mục thì ghi rõ lý do hủy bỏ, bãi bỏ. Đối với các điều trong văn bản quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành bị hủy bỏ, bãi bỏ toàn bộ thì loại bỏ điều này ra khỏi Bộ pháp điển và không ghi chú. Đối với các điều trong văn bản quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành bị hủy bỏ, bãi bỏ một phần thì loại bỏ nội dung bị hủy bỏ, bãi bỏ ra khỏi Bộ pháp điển và thực hiện ghi chú theo quy định. Nội dung ghi chú được thực hiện theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 11 Thông tư số 13/2014/TT-BTP. Kết quả pháp điển được gửi đến Bộ Tư pháp để kiểm tra, cập nhật vào Bộ pháp điển theo quy định.

- Trường hợp có văn bản mới thay thế toàn bộ văn bản có tên gọi được sử dụng làm tên gọi của đề mục thì cơ quan thực hiện pháp điển xác định đề mục tương ứng trong Bộ pháp điển, xây dựng lại đề mục theo quy định tại Điều 11, Điều 12 và Điều 13 Nghị định số 63/2013/NĐ-CP.

Trường hợp này, Bộ Tư pháp cũng như các cơ quan thực hiện pháp điển không phải báo cáo, đề nghị Chính phủ về việc xác định đề mục mới thay thế đề mục đã có trong Bộ pháp điển và phân công cơ quan thực hiện pháp điển. Khi đó, cơ quan có thẩm quyền pháp điển pháp điển đối với văn bản mới thay thế toàn bộ văn bản có tên gọi được sử dụng làm tên gọi của đề mục (theo quy định của Điều 4 Pháp lệnh Pháp điển) có trách nhiệm chủ trì thực hiện pháp điển lại đề mục đó. Việc thực hiện pháp điển, thẩm định, trình Chính phủ thông qua và sắp xếp kết quả pháp điển vào Bộ pháp điển theo quy định tại Điều 9, Điều 10, Điều 11, Điều 12 Pháp lệnh pháp điển. Các quy phạm pháp luật còn hiệu lực của văn bản quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành văn bản bị thay thế có tên gọi được sử dụng làm tên gọi của đề mục được thực hiện pháp điển lại theo quy định tại Điều 11, Điều 12 và Điều 13 Nghị định số 63/2013/NĐ-CP (Khoản 3 Điều 11 Thông tư số 13/2014/TT-BTP).

Về tên của đề mục: Điểm b khoản 1 Điều 11 Thông tư số 13/2014/TT-BTP quy định tên gọi của đề mục trong trường hợp này là tên gọi của văn bản thay thế và số thứ tự của đề mục được giữ nguyên. Trường hợp có một văn bản mới thay thế nhiều văn bản có tên gọi được sử dụng làm tên gọi của nhiều đề mục thì tên gọi của đề mục xây dựng lại là tên gọi của văn bản thay thế, số thứ tự của đề mục xây dựng lại là số thứ tự thấp nhất của các đề mục đó.

Về việc xử lý đối với các đề mục bị thay thế: Điểm d khoản 2 Điều 11 Thông tư số 13/2014/TT-BTP quy định trường hợp có một văn bản mới thay thế toàn bộ nhiều văn bản có tên gọi được sử dụng làm tên gọi của nhiều đề mục theo quy định tại Điểm b Khoản 1 Điều 11 Thông tư số 13/2014/TT-BTP thì những đề mục bị thay thế nhưng không xây dựng lại được giữ nguyên tên, số thứ tự của đề mục đó và ghi chú về lý do loại bỏ khỏi Bộ pháp điển.

Kết quả pháp điển được gửi đến Bộ Tư pháp để thẩm định theo quy định tại Điều 10 Pháp lệnh pháp điển.

- Trường hợp có văn bản mới thay thế văn bản quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành đã được pháp điển thì cơ quan thực hiện pháp điển xác định vị trí và các nội dung trong Bộ pháp điển bị thay thế; vị trí và nội dung của các quy phạm pháp luật mới trong Bộ pháp điển, đánh số, tên của điều theo vị trí đã xác định trong Bộ pháp điển, ghi chú, xác định các quy phạm pháp luật có liên quan theo quy định tại Điều 4, Điều 5, Điều 11, Điều 12 và Điều 13 của Nghị định số 63/2013/NĐ-CP. Kết quả pháp điển được gửi đến Bộ Tư pháp để kiểm tra, cập nhật vào Bộ pháp điển theo quy định.

- Trường hợp văn bản có tên gọi được sử dụng làm tên gọi của đề mục bị bãi bỏ toàn bộ mà không có văn bản thay thế thì cơ quan chủ trì thực hiện pháp điển đề mục bị bãi bỏ xác định đề mục tương ứng trong Bộ pháp điển, có văn bản đề nghị Bộ Tư pháp loại bỏ nội dung đề mục đó ra khỏi Bộ pháp điển. Bộ Tư pháp thực hiện loại bỏ nội dung đề mục và thực hiện ghi chú theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 11 Thông tư số 13/2014/TT-BTP. Việc loại bỏ đề mục khỏi Bộ pháp điển không làm ảnh hưởng đến số thứ tự của các đề mục khác cùng chủ đề trong Bộ pháp điển mà chỉ là việc loại bỏ toàn bộ nội dung của đề mục đó.

Tên, số thứ tự của đề mục được giữ nguyên và thực hiện ghi chú ngay sau tên của đề mục. Các đề mục khác cùng chủ đề trong Bộ pháp điển không bị thay đổi số thứ tự (điểm c khoản 1 Điều 11 Thông tư số 13/2014/TT-BTP).

- Kết quả pháp điển quy phạm pháp luật mới được trình bày theo mẫu số 04 kèm theo Thông tư số 13/2014/TT-BTP.

2. Thời hạn và hồ sơ đề nghị cập nhật quy phạm pháp luật mới vào Bộ pháp điển

- Việc pháp điển quy phạm pháp luật mới trong các trường hợp quy định tại Khoản 1, Khoản 2, Khoản 3, Khoản 5 và Khoản 6 Điều 17 Nghị định số 63/2013/NĐ-CP, chậm nhất là 20 ngày, trước ngày quy phạm pháp luật mới ban hành có hiệu lực thì cơ quan thực hiện pháp điển gửi về Bộ Tư pháp 01 bộ hồ sơ đề nghị cập nhật kết quả pháp điển quy phạm pháp luật mới bằng văn bản kèm bản điện tử (Khoản 1 Điều 18 Nghị định số 63/2013/NĐ-CP). Hồ sơ gồm: Văn bản đề nghị cập nhật kết quả pháp điển quy phạm pháp luật mới của cơ quan thực hiện pháp điển; Kết quả pháp điển quy phạm pháp luật mới bằng văn bản do Thủ trưởng cơ quan thực hiện pháp điển ký xác thực và đóng dấu của cơ quan thực hiện pháp điển;Văn bản chứa quy phạm pháp luật mới ban hành.

- Việc xây dựng lại đề mục theo quy định tại Khoản 4 Điều 17 Nghị định số 63/2013/NĐ-CP thì cơ quan thực hiện pháp điển gửi hồ sơ đề nghị thẩm định, hoàn thiện, ký xác thực kết quả xây dựng lại đề mục đến Bộ Tư pháp theo quy định tại Điều 14 Nghị định số 63/2013/NĐ-CP trong thời hạn sau: Chậm nhất là 60 ngày, trước ngày quy phạm pháp luật mới trong các văn bản quy phạm pháp luật do Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội ban hành có hiệu lực thi hành; Chậm nhất là 35 ngày, trước ngày quy phạm pháp luật mới trong các văn bản không thuộc trường hợp do Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội ban hành có hiệu lực thi hành.

3. Bộ Tư pháp thực hiện kiểm tra và cập nhật kết quả pháp điển quy phạm pháp luật mới ban hành

Điều 19 Nghị định số 63/2013/NĐ-CP quy định:

- Bộ Tư pháp kiểm tra tính đầy đủ, chính xác của kết quả pháp điển quy phạm pháp luật mới ban hành đối với trường hợp quy định tại Khoản 1 Điều 18 của Nghị định số 63/2013/NĐ-CP. Trong trường hợp phát hiện kết quả pháp điển các quy phạm pháp luật mới ban hành chưa đầy đủ, chính xác, Bộ Tư pháp đề nghị cơ quan thực hiện pháp điển chỉnh lý.

- Cơ quan thực hiện pháp điển có trách nhiệm chỉnh lý kết quả pháp điển theo đề nghị của Bộ Tư pháp và gửi kết quả chỉnh lý đến Bộ Tư pháp trong thời hạn 5 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được đề nghị.

- Đối với trường hợp quy định tại Khoản 2 Điều 18 của Nghị định số 63/2013/NĐ-CP, Bộ Tư pháp thực hiện theo quy định tại Điều 15 của Nghị định này.

- Bộ Tư pháp cập nhật kết quả pháp điển các quy phạm pháp luật mới ban hành vào Bộ pháp điển tại thời điểm quy phạm pháp luật mới có hiệu lực thi hành và loại bỏ các quy phạm pháp luật hết hiệu lực khỏi Bộ pháp điển./.