Hỏi đáp CSTC

Hỏi:
Vừa qua vợ tôi bị mất do căn bệnh ung thư, để được giải quyết quyền lợi tử vong hợp đồng bảo hiểm, Công ty TNHH Manulife đã yêu cầu gia đình tôi cung cấp bổ sung các chứng từ y tế hồ sơ khám chữa bệnh của người đã mất bao gồm: - Chứng từ y tế hồ sơ khám chữa bệnh từ năm 2018 (bảng chụp VSSID) - Chứng từ y tế hồ sơ khám sức khỏe lần đầu phát hiện bệnh K vú. - Chứng từ y tế hồ sơ khám sức khỏe 3 năm (2019.2020.2021) - Chứng từ y tế hồ sơ khám nội và ngoại trú trước đợt nhập viện. Sau khi thu thập, gia đình đã cung cấp 02 chứng từ y tế bao gồm: - Chứng từ y tế hồ sơ khám chữa bệnh từ năm 2018 (bảng chụp VSSID) - Chứng từ y tế hồ sơ khám sức khỏe lần đầu phát hiện bệnh K vú. (bao gồm chứng từ lần đầu phát hiện bệnh tại bệnh viện Ung Bứu Đà Nẵng và hồ sơ điều trị tại bệnh viện K Hà Nội) Đối với 02 Chứng từ y tế: Chứng từ hồ sơ khám chữa bệnh từ năm 2018 đến nay và chứng từ y tế hồ sơ khám nội và ngoại trú trước đợt nhập viện thì gia đình chúng tôi không có (có thể vợ tôi thời gian đó không thực hiện khám, chữa bênh nên không có chứng từ y tế) nên không thể cung cấp cho Công ty. Để giải quyết vấn đề này, tôi đã có đơn đề nghị Công ty vào cuộc tự xác minh để đảm bảo tính khách quan, chính xác nếu Công ty cảm thấy cần thiết. Nhưng Công ty đã không đồng ý và có thư trả lời với gia đình chúng tôi rằng, yêu cầu giải quyết quyền lợi tử vong hợp đồng bảo hiểm của gia đình tôi bị tạm ngừng xem xét. Do đó, xin Bộ Tài chính xem xét, có ý kiến việc làm nêu trên của Công ty là đúng hay sai. Trong trường hợp gia đình chúng tôi không thể cung cấp các chứng từ thì phải giải quyết vụ việc như thế nào. Tôi xin chân thành cảm ơn quý Bộ.
24/01/2024
Trả lời:

Bộ Tài chính nhận được câu hỏi của độc giả Nguyễn Cường trên Cổng thông tin điện tử Bộ Tài chính về việc vợ của độc giả có hợp đồng bảo hiểm nhân thọ tại Công ty TNHH Manulife (Việt Nam). Khi gia đình yêu cầu Công ty Manulife chi trả quyền lợi bảo hiểm đối với sự kiện bảo hiểm của vợ độc giả, Công ty Manulife đã yêu cầu cung thêm các chứng từ y tế.

Gia đình đã thông báo đến Công ty về việc không thể cung cấp một số chứng từ y tế theo yêu cầu của Công ty và đề nghị Công ty tự xác minh để đảm bảo tính khách quan, chính xác. Tuy nhiên, Công ty đã có thư trả lời về việc tạm ngưng xem xét yêu cầu giải quyết quyền lợi bảo hiểm. Vì vậy, độc giả đề nghị Bộ Tài chính xem xét ý kiến của Công ty là đúng hay sai và trong trường hợp gia đình không thể cung cấp các chứng từ thì giải quyết vụ việc như thế nào?

Trên cơ sở quy định của Luật Kinh doanh bảo hiểm, Quy tắc điều khoản sản phẩm đã được Bộ Tài chính phê chuẩn và pháp luật có liên quan, Bộ Tài chính có ý kiến như sau:

1. Quy định tại Luật Kinh doanh bảo hiểm số 08/2022/QH15

- Khoản 16 Điều 4 Luật Kinh doanh bảo hiểm quy định về việc giải quyết quyền lợi bảo hiểm theo hợp đồng bảo hiểm như sau:

“16.Hợp đồng bảo hiểm là sự thoả thuận giữa bên mua bảo hiểm và doanh nghiệpbảo hiểm, chi nhánh doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nước ngoài, tổ chức tương hỗ cung cấp bảo hiểm vi mô, theo đó bên mua bảo hiểm phải đóng phí bảo hiểm, doanh nghiệpbảo hiểm, chi nhánh doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nước ngoài, tổ chức tương hỗ cung cấp bảo hiểm vi môphải bồi thường,trả tiềnbảo hiểm theo thỏa thuận trong hợp đồng.”.

- Điểm e, đ khoản 2 Điều 20 Luật kinh doanh bảo hiểm quy định nghĩa vụ của doanh nghiệp bảo hiểm như sau:

Điều 20. Quyền và nghĩa vụ của doanh nghiệp bảo hiểm, chi nhánh doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nước ngoài

2. Doanh nghiệp bảo hiểm, chi nhánh doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nước ngoài có các nghĩa vụ sau đây:

e) Giải thích bằng văn bản lý do từ chối bồi thường, trả tiền bảo hiểm;

đ) Bồi thường, trả tiền bảo hiểm khi xảy ra sự kiện bảo hiểm;”.

- Điểm đ khoản 2 Điều 21 Luật kinh doanh bảo hiểm quy định nghĩa vụ của bên mua bảo hiểm như sau:

Điều 21. Quyền và nghĩa vụ của bên mua bảo hiểm

2. Bên mua bảo hiểm có các nghĩa vụ sau đây:

đ) Thông báo cho doanh nghiệp bảo hiểm, chi nhánh doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nước ngoài về việc xảy ra sự kiện bảo hiểm theo thỏa thuận trong hợp đồng bảo hiểm; phối hợp với doanh nghiệp bảo hiểm, chi nhánh doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nước ngoài trong giám định tổn thất.”

- Khoản 1 Điều 31 Luật Kinh doanh bảo hiểm quy định về thời hạn trả tiền bảo hiểm như sau:

“Điều 31. Thời hạn bồi thường, trả tiền bảo hiểm

1. Khi xảy ra sự kiện bảo hiểm, doanh nghiệp bảo hiểm, chi nhánh doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nước ngoài phải bồi thường, trả tiền bảo hiểm theo thời hạn đã thỏa thuận trong hợp đồng bảo hiểm. Trường hợp không có thỏa thuận về thời hạn thì doanh nghiệp bảo hiểm, chi nhánh doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nước ngoài phải bồi thường, trả tiền bảo hiểm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được đầy đủ hồ sơ hợp lệ về yêu cầu bồi thường, trả tiền bảo hiểm.“.

- Điều 32 Luật Kinh doanh bảo hiểm quy định phương thức giải quyết tranh chấp như sau:

“Điều 32. Phương thức giải quyết tranh chấp

Tranh chấp về hợp đồng bảo hiểm được giải quyết thông qua thương lượng giữa các bên. Trường hợp không thương lượng được thì tranh chấp được giải quyết thông qua hòa giải hoặc Trọng tài hoặc Tòa án theo thỏa thuận trong hợp đồng bảo hiểm và quy định của pháp luật.”.

Câu hỏi của độc giả liên quan đến việc giải quyết quyền lợi bảo hiểm theo thỏa thuận tại hợp đồng bảo hiểm, thuộc thẩm quyền giải quyết của doanh nghiệp bảo hiểm. Bộ Tài chính đã chuyển nội dung phản ánh của độc giả đến Công ty TNHH Manulife (Việt Nam) để được giải quyết theo hợp đồng bảo hiểm đã giao kết và quy định pháp luật có liên quan.

Theo báo cáo của Công ty TNHH Manulife (Việt Nam), Công ty đã liên hệ với ông và giải quyết quyền lợi bảo hiểm theo thỏa thuận tại hợp đồng bảo hiểm đã giao kết ngày 14/8/2023.

Bộ Tài chính thông tin để ông Nguyễn Cường được biết/.

Gửi phản hồi: