Hà Nội - 2009
|
BỘ TÀI CHÍNH
|
Hà Nội, ngày tháng
năm 2009 |
BÁO CÁO TỔNG HỢP
TÌNH HÌNH THU HÚT, VẬN ĐỘNG VÀ
THỰC HIỆN
CÁC CHƯƠNG TRÌNH DỰ ÁN ODA NĂM
2008
I. Tình hình vận động ODA năm
2008:
1. Tình hình thẩm định và phê
duyệt:
Năm 2008, Bộ Tài chính đã tiến hành thẩm định và phê duyệt cho 08 dự
án. Các dự án này hỗ trợ cho Bộ Tài chính trong lĩnh vực: quản lý doanh
nghiệp, quản lý nợ, phân tích chính sách tài chính, quản lý rủi ro hải quan,
nâng cao năng lực, hậu WTO, quản lý thuế và quản lý giá.
(Phụ đính 1: Danh mục các
chương trình, dự án ODA phê duyệt năm 2008)
2. Tình hình đàm phán, ký kết
các điều ước quốc tế cụ thể về ODA:
Tổng vốn đầu tư của 08 dự án này gần 10 triệu USD, quy đổi ra là
gần 141 tỷ VNĐ (trong đó vốn ODA viện trợ không hoàn lại gần 9 triệu USD).
(Phụ đính 2: Báo cáo về ký kết
các chương trình, dự án đã ký kết năm 2008)
3. Tình hình chuẩn bị các dự án
mới:
Bộ Tài chính cũng đang chuẩn bị các dự án sau:
3.1- Quỹ MDTF giai đoạn 2 dự kiến với tổng kính phí là 6,5 triệu USD được
tài trợ bởi Nhóm các nhà tài trợ thông qua sự quản lý của Ngân hàng thế giới với
mục tiêu hỗ trợ cho Bộ Tài chính thực hiện các chiến lược cải cách quản lý tài
chính công.
Tiến trình chuẩn bị dự án: Dự án đã được duyệt danh mục, hiện Bộ Tài
chính và WB đang hoàn thiện Văn kiện dự án và Hiệp định tài trợ (GA). Sau khi
Hiệp định tài trợ được ký kết, Bộ Tài chính sẽ tổ chức thẩm định và phê duyệt
Văn kiện dự án để dự án được triển khai thực hiện.
3.2 - Dự án “Phát triển cơ sở hạ tầng thị trường tài chính” dự kiến vay
vốn WB 35 triệu USD để hỗ trợ Uỷ ban chứng khoán nhà nước và Tổng công ty đầu tư
và kinh doanh vốn Nhà nước tiếp cận thông tin kịp thời và tin cậy về hoạt động
kinh doanh của các công ty đại chúng, các tổ chức trung gian đã được cấp phép
trên thị trường và các nhà đầu tư. Đồng thời hỗ trợ nâng cao năng lực các hiệp
hội những người tham gia thị trường cũng như các tổ chức tự quản lý tiềm năng
nhằm hỗ trợ Uỷ ban chứng khoán Nhà nước giám sát và thực thi chính sách.
Tiến trình chuẩn bị dự án: Uỷ ban chứng khoán nhà nước và Tổng Công ty
đầu tư và kinh doanh vốn Nhà nước đang tiến hành xây dựng đề cương chi tiết để
trình Bộ Tài chính xem xét và trình Thủ tướng Chính phủ duyệt danh mục dự án.
3.3 - Dự án “Quỹ đầu tư phát triển địa phương” dự kiến vay vốn WB 150
triệu USD để hỗ trợ Bộ Tài chính triển khai thực hiện các quỹ đầu tư phát triển
địa phương.
Tiến trình chuẩn bị dự án: Báo cáo nghiên cứu khả thi dự án và các tiểu
dự án đầu tư mẫu của các quỹ đầu tư phát triển địa phương dự kiến sẽ hoàn thành
trong tháng 3/2009 (thực hiện trong khuốn khổ dự án HTKT do WB tài trợ) để trình
Bộ Tài chính phê duyệt và trình các cơ quan có thẩm quyền, đàm phán ký hiệp định
vay vốn WB trong niên khoá tài chính 2009 (tháng 6/2009).
II. Tình hình thực hiện các
chương trình, dự án ODA năm 2008
Năm 2008, Bộ Tài chính tiếp nhận thêm 08 dự án mới, kết thúc 01 dự án,
đưa tổng số dự án đang thực hiện lên 25 chương trình, dự án với tổng giá trị cam
kết lên đến gần 248 triệu USD (trong đó 203 triệu ODA vay và 45 triệu ODA không
hoàn lại). Các dự án của Bộ Tài chính chủ yếu là dự án có quy mô vừa (10 dự án)
và nhỏ (11 dự án).

(Biểu đồ1 - Số lượng dự án theo quy mô vốn)
Các dự án do nước ngoài tài trợ cho Bộ Tài chính tập
trung hỗ trợ cho các lĩnh vực quản lý thu NSNN (64%), quản lý chi NSNN (26%),
quản lý nợ, lĩnh vực bảo hiểm….

Phân loại dự án theo loại hình tài trợ thì số lượng
các dự án do các Tổ chức tài chính quốc tế và tổ chức quốc tế tài trợ (11 dự án)
gần tương đương với số lượng dự án do các song phương (12 dự án). Tuy nhiên, quy
mô vốn thì hoàn toàn khác biệt (dự án do TCTCQT và TCQT chiếm tỷ lệ cao nhất và
chủ yếu nhất (88%)

(Biểu đồ 2-4: Phân loại dự án)
1. Tiến độ thực hiện so với kế
hoạch:
- Tiến độ thực hiện của 25
chương trình, dự án được chia ra thành 03 nhóm đánh giá như sau:
+ Nhóm các dự án mới được phê
duyệt trong năm 2008 (08 dự án): Tiến độ thực hiện chỉ đạt từ 10 – 20% do đây là
giai đoạn khởi động dự án. Các công việc được thực hiện trong giai đoạn này bao
gồm thành lập Ban QLDA, xây dựng Quy chế quản lý và hoạt động của Ban QLDA, xây
dựng các kế hoạch và trình cấp có thẩm quyền phê duyệt, các thủ tục cho chuyên
gia…
+ Nhóm các dự án vốn vay Ngân hàng thế giới (03 dự án):
Dự án HĐH quản lý thuế: dự án chỉ đạt 10% tiến độ thực
hiện do dự án mới có hiệu lực thực hiện từ 26/6/2008. Các hoạt động phần lớn
liên quan đến thủ tục để dự án có thể triển khai thực hiện bao gồm việc mở các
tài khoản tại kho bạc và ngân hàng thương mại, đăng ký chữ ký rút vốn, trình phê
duyệt các kế hoạch.
Dự án HĐH hải quan: mặc dù dự án đã được thực hiện ổn
định nhưng tiến độ thực hiện cũng chỉ đạt 17%. Nguyên nhân chậm trễ là do những
yếu tố không thuận lợi trong việc thực hiện các gói thầu của dự án. Cụ thể, việc
chấm dứt gói thầu khuôn khổ pháp lý với tư vấn cá nhân do yêu cầu thay đổi nội
dung điều khoản giao việc của chuyên gia; chậm trễ trong gói thầu can thiệp bằng
ngoại lệ do báo cáo của tư vấn không đạt yêu cầu phải hoàn chỉnh lại nhiều lần,
đồng thời phải chấm dứt gói thầu với tư vấn công ty này trong khi nội dung về
quản lý rủi ro và kiểm tra sau thông quan của gói thầu này chưa được thực hiện;
chấm dứt hợp đồng với tư vấn của gói thầu tái cơ cấu tổ chức do có vướng mắc về
hợp đồng với tư vấn; một số các vướng mắc khác liên quan đến những khó khăn
trong việc lựa chọn tư vấn phù hợp.
Dự án Cải cách quản lý tài chính công: Tiến độ thực
hiện của dự án đạt 80% kế hoạch.
+ Nhóm các dự án hỗ trợ kỹ thuật chuyển tiếp từ năm
2007 (14 dự án): Các dự án này đã đi vào hoạt động ổn định nên có tiến độ hoạt
động cao hơn từ 60 - 100%.
Chi tiết kết quả thực hiện năm
2008 của các chương trình dự án như bảng tổng hợp dưới đây.
|
Kết quả thực hiện năm 2008 |
|
Tiến độ thực hiện |
Số dự án |
|
<
20% |
8 |
|
20% - 40% |
3 |
|
40% - 60% |
1 |
|
60% - 80% |
4 |
|
>
80% |
9 |
2 - Tiến độ giải ngân:
Trong tổng số 25 chương trình, dự án báo cáo thì có 07
dự án báo cáo số liệu giải ngân. Các dự án còn lại không có số liệu giải ngân là
do nhà tài trợ cam kết hỗ trợ hoạt động, không cam kết kinh phí cụ thể (như
Chương trình hợp tác tài chính Pháp - Việt); nhà tài trợ quản lý kinh phí tài
trợ (USTDA, Đức, JICA) và chưa có thông báo tình hình giải ngân cho Bộ Tài chính;
08 dự án mới năm 2008 đang trong quá trình trình phê duyệt kế hoạch hoạt động,
kế hoạch giải ngân.
Trong năm 2008, 07 dự án của Bộ
Tài chính đã giải ngân được 99,3 tỷ đồng (tương đương với hơn 6
triệu USD), trong đó có 90,6 tỷ vốn ODA. Tỷ lệ giải ngân đạt 55% kế
hoạch năm.
Sơ đồ dưới đây cho thấy 03 dự
án của Bộ Tài chính có tỷ lệ giải ngân ở mức trung bình từ 41% - 70% (Dự
án ETV2 (60%), tiểu dự án Chia sẻ (59%), dự án Cải cách quản lý tài chính công
(41%)); 02 dự án đạt tỷ lệ giải ngân cao từ 71% - 100% (Dự án Trung tâm
đào tạo bảo hiểm Việt Nam (91%), dự án VIE/03/010 (113%)), trong khi đó thì lại
có 02 dự án đạt tỷ lệ giải ngân thấp ( Dự án Hiện đại hoá hải quan (17%),
dự án HTKT chuẩn bị dự án Quỹ đầu tư phát triển địa phương (32%).
Sở dĩ dự án ETV2 và tiểu dự án
Chia Sẻ có tỷ lệ giải ngân ở mức trung bình là do kế hoạch hoạt động năm 2008 đã
được điều chỉnh kéo dài tới 30/4/2009 đối với dự án ETV2 và tới 31/3/2009 đối
với tiểu dự án Chia sẻ. Do vậy nếu so sánh với kế hoạch điều chỉnh thì tỷ lệ
giải ngân thực tế đạt tới trên 90%.

(Biểu đồ 5: Tần suất tỷ lệ giải ngân)
Tỷ lệ giải ngân năm 2008 của dự án Hiện đại hoá hải
quan và dự án HTKT chuẩn bị quỹ đầu tư phát triển địa phương đạt thấp là do độ
trễ trong việc thực hiện các gói thầu (như đã đề cập tại phần tiến độ thực hiện
ở trên).
Dự án đạt tỷ lệ giải ngân cao là các dự án kết thúc
trong quý IV/2008.
(Phụ đính 3: Báo cáo giải ngân
năm 2008)
3 – Các lĩnh vực nhận được hỗ
trợ từ nguồn ODA:
- Lĩnh vực quản lý
chi: được sự hỗ trợ của các dự án (1)
Cải cách Quản lý
tài chính công (vay vốn của WB) - cấu phần I và cấu phần II (2)
Hợp phần II - Nền tài chính công thuộc Chương trình
cải cách kinh tế vĩ mô do GTZ - Đức và (3) Tiểu dự án Chia Sẻ của Sida - Thụy
Điển (4) hoạt động hỗ trợ cho Kho bạc nhà nước trong khuôn khổ chương trình hợp
tác Pháp - Việt.
- Lĩnh vực quản lý
thu:
nhận được các hỗ trợ từ (1) dự án Hiện đại hoá quản lý thuế (vay vốn của WB) (2)
dự án cải cách quản lý hành chính thuế của JICA - Nhật Bản (3) dự án Quản lý rủi
ro trong lĩnh vực hải quan khu vực sông Mê Kông của JICA- Nhật Bản (4) dự án Xây
dựng mô hình kinh tế lượng, phân tích đánh giá tác động của Luật thuế thu nhập
cá nhân ở Việt Nam do Đan Mạch tài trợ (5) Dự án Hiện đại hoá hải quan
(vay vốn WB) (6) dự án ETV2 - Hợp phần quản lý hải quan và hợp phần quản lý hành
chính thuế (7) hoạt động hỗ trợ cho thuế và hải quan trong khuôn khổ Chương
trình hợp tác Pháp - Việt.
-
Quản lý nợ Chính phủ:
nhận được các hỗ trợ từ (1)
Dự án Cải cách
Quản lý tài chính công - Cấu phần III (2) dự án hỗ trợ phân cấp quản lý tài
chính do ADB tài trợ (3) các hoạt động trong khuôn khổ Hợp phần II - Nền tài
chính công thuộc Chương trình cải cách kinh tế vĩ mô
do GTZ - Đức.
- Lĩnh vực quản lý
doanh nghiệp:
nhận được hỗ trợ từ (1) dự án HTKT chuẩn bị dự án Cải cách DNNN và hỗ trợ quản
trị công ty do ADB tài trợ (2) dự án “Hậu WTO“.
- Lĩnh vực quản lý
công sản:
đã được hỗ trợ từ (1) dự án Hỗ trợ xây dựng xây dựng và ban hành Luật Quản lý,
sử dụng tài sản nhà nước.
-
Quản lý giá:
Với sự hỗ trợ thông qua Quỹ MDTF, hệ thống chính sách về thẩm định giá ở Việt
Nam đã dần được hoàn thiện và đi vào áp dụng, việc đào tạo nhân sự thẩm định giá
đặc biệt được chú trọng. Khoản HTKT của các nhà tài trợ (AusAID, Bộ Ngoại giao
Đan Mạch và Bộ Hợp tác phát triển Hà Lan) đang hỗ trợ Bộ Tài chính trong việc
xây dựng và ban hành khung giá nước sạch nông thôn.
-
Quản lý thị trường tài chính:
nhận được các hỗ trợ từ (1) dự án HTKT chuẩn bị dự án Quỹ đầu tư phát triển địa
phương do WB tài trợ (2) Dự án phát triển thị trường vốn do Luxembourg tài trợ
(3) dự án xây dựng các qui định và hướng dẫn hoạt động quản lý quỹ tài sản và
quỹ đầu tư do Quỹ First tài trợ (4) dự án nghiên cứu khả thi dự án nâng cấp và
phát triển trung tâm giao dịch chứng khoán Hà Nội do USTDA tài trợ (5) dự án hỗ
trợ của Seco - Thuỵ Sỹ nâng cao năng lực cho UBCKNN.
-
Các lĩnh vực khác bao gồm thống kế tài chính, thanh tra tài chính, bảo hiểm,
kế toán kiểm toán, phân tích chính sách cũng nhận được tài trợ thông qua các dự
án (1) dự án ETV2 hợp phần chính sách tài chính và tư vấn pháp lý; hợp phần quản
lý bảo hiểm và kế toán (2) dự án VIE/03/010 và dự án hỗ trợ phân tích chính sách
tài chính do UNDP tài trợ (3) dự án VN hướng tới các chuẩn mực quốc tế trong
quản lý giám sát bảo hiểm do Quỹ First tài trợ (4) dự án Trung tâm đào tạo bảo
hiểm (5) dự án hệ thống thông tin thống kê tài chính VN
III – Các vướng
mắc và kiến nghị biện pháp giải quyết:
1. Các vướng mắc:
Quá trình tiếp
nhận, triển khai thực hiện các dự án của Bộ Tài chính năm 2008 nổi lên các vướng
mắc chủ yếu sau:
- Giai đoạn khởi
động dự án bị kéo dài: Các công việc trong giai đoạn khởi động dự án bao gồm quá
trình xây dựng và phê duyệt việc thành lập Ban QLDA, Quy chế tổ chức và hoạt
động của Ban QLDA, kế hoạch hoạt động, kế hoạch giải ngân, thủ tục cho chuyên
gia tư vấn quốc tế...
Việc chậm trễ do
(1) chủ dự án chuẩn bị và xây dựng chưa kỹ đề án, mất thời gian cho việc thẩm
định phê duyệt để dự án đi vào hoạt động; (2) Chưa có các hướng dẫn cụ thể về
qui trình phối kết hợp giữa các đơn vị trong nội bộ Bộ Tài chính đối với các dự
án đầu tư gây chậm trễ cho việc phê duyệt các kế hoạch.
- Khan hiếm nguồn
chuyên gia tư vấn có chất lượng và phù hợp: Các gói thầu tuyển chọn tư vấn cá
nhân và công ty đều gặp khó khăn trong việc triển khai do số lượng hồ sơ tham
gia ít và không chất lượng nên phải tổ chức đấu thầu lại. Việc này ảnh hưởng lớn
đến tiến độ thực hiện của các dự án.
- Các nhà tài trợ
như ADB, Pháp, Đức thường không cung cấp các số liệu giải ngân một cách kịp thời
cho Chính phủ nên gây khó khăn cho công tác quản lý, hạch toán, kế toán và báo
cáo của các dự án.
- Định mức chi
tiêu của Chính phủ Việt Nam không phù hợp với thực tế hiện nay nên phần nào ảnh
hưởng đến hiệu quả và tiến độ của các dự án.
- Các Ban QLDA gặp
nhiều khó khăn trong việc tuyển dụng cán bộ có chuyên môn phù hợp.
- Việc tuân thủ
qui định về lập kế hoạch tổng thể và kế hoạch hàng năm chưa được các Ban QLDA
quan tâm đúng mức. Việc này dẫn tới khó khăn trong việc thực hiện công tác theo
dõi và đánh giá dự án.
- Qui trình thủ
tục của Chính phủ Việt Nam và của nhà tài trợ còn nhiều khác nhau. Việc này ảnh
hưởng không nhỏ đến việc chuẩn bị, trình duyệt và triển khai các hoạt động của
dự án. VD: thủ tục về mua sắm đấu thầu
2. Kiến nghị biện
pháp giải quyết:
Kiến nghị với Bộ
Tài chính
- Cần sớm hoàn
thiện hệ thống văn bản, quy định/quy chế hướng dẫn việc thu hút và sử dụng ODA
trong nội bộ BTC cho phù hợp với Nghị định 131/2006/NĐ-CP.
- Tăng
cường năng lực cho các cán bộ làm công tác quản lý dự án nhằm nâng cao hiệu quả
sử dụng nguồn tài trợ.
- Các
chủ dự án cần nâng cao tính sở hữu dự án để thực sự tích cực trong quá trình
triển khai thực hiện dự án.
- Dần
dần xây dựng cơ sở dữ liệu về về chuyên gia tư vấn trong lĩnh vực tài chính công
để giảm sự phụ thuộc vào các nhà thầu trong việc cung cấp thông tin về tư vấn.
Khuyến nghị đối
với các nhà tài trợ:
- Cần tăng cường hơn nữa mức độ
điều phối trong nội bộ cộng đồng các nhà tài trợ cho BTC.
Quy trình, thủ tục
hành chính của Bộ và của các nhà tài trợ cần được đơn giản hoá và hài hoà hoá
hơn nữa. Nên có các đánh giá và trao đổi chuyên biệt giữa BTC, Bộ Kế hoạch & Đầu
tư (KH-ĐT) và các nhà tài trợ về chủ đề hài hoà hoá thủ tục.
Khuyến nghị đối
với Bộ Kế hoạch và Đầu tư:
- Nghiên cứu và
khắc phục các lỗi thường xảy ra đối với công cụ báo cáo AMT để tạo điều kiện
thuận lợi cho cán bộ theo dõi và làm công tác báo cáo của Ban QLDA và cơ quan
chủ quản.
- Tiếp tục hỗ trợ
Bộ Tài chính trong việc tổ chức các lớp tập huấn hướng dẫn thực hiện Nghị định
131/2006/NĐ-CP; Thông tư 04/2007/TT-BKH; Quyết định 803/2007/QĐ-BKH... cho các
cán bộ của các Ban Quản lý dự án mới.
- Đẩy mạnh việc
hài hoà hoá các thủ tục giữa Chính phủ Việt Nam và các nhà tài trợ.
- Yêu cầu các nhà
tài trợ thường xuyên cung cấp các thông tin về tình hình giải ngân cho Chính phủ
Việt Nam. Đặc biệt là đối với các nhà tài trợ như ADB, Đức, Pháp.
- Có hướng dẫn cụ
thể hơn về công tác thẩm định dự án, cụ thể là: trong trường hợp các dự án HTKT
do cơ quan chủ quản trực tiếp quản lý, triển khai thực hiện thì đơn vị nào sẽ là
đơn vị chủ trì thẩm định dự án.
Hà Nội, ngày tháng năm
2009
|
|
TL. BỘ
TRƯỞNG
KT. VỤ
TRƯỞNG VỤ HỢP TÁC QUỐC TẾ
PHÓ VỤ
TRƯỞNG
Nguyễn Bá
Toàn |
[Trở về]