Về Thu Ngân sách Nhà nước 86-90

Giai đoạn 1986 - 1990
Về thu ngân sách Nhà nước


Để đảm bảo nguồn thu của ngân sách Nhà nước, các chế độ thu quốc doanh, các pháp lệnh về thuế công thương nghiệp, thuế nông nghiệp được bổ sung sửa đổi, hệ thống thu ngân sách được cải cách, các bộ luật thuế áp dụng thống nhất cho các thành phần kinh tế được xây dựng và hoàn thiện từng bước, Luật đầu tư nước ngoài ở Việt Nam cũng được ban hành để thu hút các nước bỏ vốn đầu tư vào nước ta.

Trong khu vực kinh tế quốc doanh, chính sách động viên tài chính không ngừng được hoàn thiện đi đôi với chế độ quản lý xí nghiệp từng bước được chấn chỉnh.

Về chính sách động viên, từ 1/1/1986, chế độ thu quốc doanh áp dụng trong cả nước không phụ thuộc vào việc thực hiện giá thành sản xuất, đòi hỏi xí nghiệp phải rà soát từng yếu tố giá thành, tiết giảm các khoản chi bất hợp lý để doanh thu bù đắp được chi phí sản xuất và có tích luỹ. Đối tượng thu quốc doanh được mở rộng thêm đối với các ngành kinh doanh ăn uống, khách sạn, dịch vụ may đo, sửa chữa... Mức thu quốc doanh là tỷ lệ phần trăm (%) trên giá bán buôn công nghiệp và cao thấp khác nhau tuỳ theo sự phân biệt ngành nghề. Nếu thu quốc doanh rồi mà lợi nhuận của xí nghiệp lớn hơn lợi nhuận định mức, thì xí nghiệp phải nộp thêm mức thu quốc doanh bổ sung. Trường hợp ngược lại, xí nghiệp được miễn giảm, mức thu bổ sung hoặc mức miễn giảm do tài chính các cấp xét duyệt (tuỳ theo mức phân cấp).

Năm 1988, chế độ thu quốc doanh được cải tiến thêm một bước. Mức thu quốc doanh là tỷ lệ phần trăm (%) trên doanh thu thực hiện, không phụ thuộc vào kết quả kinh doanh của xí nghiệp. Mức thu thể hiện chính sách tích luỹ trên từng mặt hàng, từng hoạt động kinh doanh, góp phần hướng dẫn tiêu dùng, có ưu tiên tư liệu sản xuất với mức thu thấp hơn tư liệu tiêu dùng, có chính sách miễn giảm đối với các mặt hàng hoặc hoạt động kinh doanh thuộc diện chính sách xã hội của các xí nghiệp quốc doanh, xí nghiệp thương binh, các bệnh viện, trường học,... có chính sách miễn giảm đối với các đơn vị sản xuất gặp khó khăn khách quan.

Lợi nhuận thực hiện của xí nghiệp hình thành từ doanh thu tiêu thụ sau khi bù đắp chi phí sản xuất và nộp thu quốc doanh, được để lại cho đơn vị từ 40% đến 60% tuỳ từng loại hình xí nghiệp, còn lại bao nhiêu phải nộp hết vào ngân sách.

Những bổ sung, sửa đổi chế độ thu quốc doanh và trích nộp lợi nhuận trên đây là bước chuyển tiếp dẫn đến sự ra đời các luật thuế chung, có hiệu lực thi hành từ 1/10/1990.

Kết quả thực hiện các chính sách động viên trên đã làm cho nguồn thu ngân sách Nhà nước không ngừng tăng lên. Thu từ khu vực kinh tế quốc doanh trong giai đoạn 1986 - 1990 bằng 27,05 lần so với giai đoạn 1981 - 1985 (trong đó các loại thuế bằng 27,0 lần, khấu hao cơ bản bằng 28,6 lần, thu sự nghiệp bằng 26,4 lần). Cơ cấu các khoản thu từ khu vực quốc doanh giữ nguyên như giai đoạn 1981 - 1985 (trong đó tích luỹ tiền tệ, thuế các loại chiếm tỷ trọng 90,7%, khấu hao cơ bản và thu khác của xí nghiệp chiếm 7,7%, thu sự nghiệp 1,6%).

Trong khu vực tiểu thủ công nghiệp và thương nghiệp dịch vụ, pháp lệnh thuế công thương nghiệp đã được bổ sung nhiều lần. Thực hiện các sắc thuế được bổ sung sửa đổi trong giai đoạn 1986 - 1990 đạt kết quả khá, số thuế công thương nghiệp tăng nhanh, năm sau lớn hơn năm trước, 5 năm 1986 - 1990 số thuế thu được bằng 27,25 lần giai đoạn 1981 - 1985. Mặc dù vậy số thu trên chưa tương xứng với mức độ phát triển của hoạt động kinh doanh, đặc biệt trong lĩnh vực thương nghiệp, dịch vụ... Nguyên nhân có nhiều, trong đó về mặt chính sách thuế công thương nghiệp ban hành đã lâu tuy đã sửa đổi bổ sung nhiều lần, nhưng vẫn mang tính chất chắp vá, nhiều quy định trong chính sách chưa bao quát được hết các nguồn thu và đối tượng thu nặng về động viên bằng thuế gián thu hơn thuế trực thu, thậm chí có phần gây ra thu chồng chéo.

Trong khu vực nông nghiệp, trong năm 1988, Pháp lệnh thuế nông nghiệp đã được bổ sung sửa đổi một bước quan trọng. Các nông trường quốc doanh, trạm, trại... của Nhà nước cũng là đối tượng nộp thuế như hợp tác xã và hộ cá thể. Đất ở của các hộ nông dân nếu vượt mức quy định của Luật đất đai phải nộp thuế. Đất trồng cây công nghiệp ngắn ngày chịu thuế suất 10% và cây dược liệu đặc biệt 20% sản lượng hàng năm. Sửa lại biểu thuế đất vườn và cây lâu năm để bảo đảm mối tương quan giữa cây ngắn ngày với cây lâu năm và sát với hiệu quả kinh tế của cây lâu năm. Bãi bỏ phụ thu hộ cá thể để được thực hiện bình đẳng giữa các thành phần kinh tế.

Với pháp lệnh thuế nông nghiệp đã được sửa đổi trong năm 1988, với giá thóc tính thuế được các cơ quan có thẩm quyền ở địa phương quy định sát với giá thị trường vào thời điểm thu thuế góp phần tăng thu cho ngân sách Nhà nước, số thuế nông nghiệp nộp vào ngân sách trong giai đoạn 1986 - 1990 bằng 43,63 lần so với giai đoạn 1981 - 1985.

Thực hiện Di chúc của Hồ Chủ tịch, việc miễn giảm thuế nông nghiệp được rải ra trong 2 năm 1990 và 1991. Số hiện vật quy thóc trong 2 năm này chỉ bằng 51,3% và 56,4% số thuế nông nghiệp thu vào ngân sách Nhà nước bình quân hàng năm.

Ngoài thuế, trong 5 năm 1986 - 1990, ngân sách còn tận thu các khoản khác (như thu hợp tác lao động với nước ngoài, xổ số, phí và lệ phí...) với khối lượng bằng 67,4 lần số thu tương ứng trong 5 năm 1981 - 1985.

Kết quả thu thuế và các khoản ngoài thuế nói trên đã làm cho nguồn thu trong nước của ngân sách trong giai đoạn 1981 - 1985 tăng nhanh. Song cần lưu ý là trong những năm 1986 - 1990, với các luật thuế mới ban hành, có nhiều thành phần kinh tế cùng nộp chung theo một sắc thuế vào ngân sách Nhà nước. Trong đó thu từ khu vực kinh tế quốc doanh chiếm tỷ trọng 64,2%, thu từ khu vực kinh tế ngoài quốc doanh chiếm 19,6%, các khoản thu khác chiếm 16,2% số thu trong nước. Như vậy thu từ khu vực kinh tế quốc doanh vẫn là nguồn thu quan trọng nhất của ngân sách Nhà nước.

Bên cạnh nguồn thu trong nước, nguồn thu từ nước ngoài của ngân sách trong giai đoạn 1986 - 1990 vẫn chiếm vị trí quan trọng, bao gồm 2 nguồn: viện trợ và vay nợ. Thu viện trợ chiếm tỷ trọng 9,2% của thu ngoài nước, thu vay nợ chiếm tỷ trọng 90,8% của thu ngoài nước, chủ yếu là nguồn nhập siêu. Tuy nhiên trong những năm 1986 - 1990, do cán cân thanh toán ngoại thương phải thu hẹp để giải quyết khó khăn của 2 phía, nên nguồn thu nhập siêu bằng đồng Rúp giảm. Ngoài ra, do chống bao cấp về giá và vốn, các đơn vị sản xuất kinh doanh của ta phải hạn chế nhập khẩu và tích cực huy động hàng tồn kho trong nước ra sử dụng, nên cân đối vật tư chủ yếu cho sản xuất bớt gay gắt... Từ đặc điểm đó, thu ngoài nước trong 5 năm 1986 - 1990 chỉ bằng 28,81 lần so với giai đoạn 1981 - 1985, chủ yếu do thay đổi tỷ giá so với đồng Rúp.

Tình hình trên đã làm cho cơ cấu thu ngoài nước so tổng thu ngân sách tiếp tục giảm. Trong giai đoạn 1986 - 1990 thu trong nước chiếm tỷ trọng 78,7%, thu ngoài nước chỉ còn lại 21,3% so với các tỷ lệ tương ứng trong giai đoạn 1981 - 1985 là 77,5% và 22,5%.

Nhìn chung tỷ lệ động viên vào ngân sách Nhà nước của giai đoạn 1986 - 1990 mới đạt 20,2% so với thu nhập quốc dân sản xuất là quá thấp, chưa năm nào đạt được mục tiêu của Quốc hội đề ra. Nguyên nhân chính có phần do nền kinh tế nước ta đang trong quá trình chuyển hướng nên nhịp độ tăng trưởng có giảm sút. Khi xây dựng kế hoạch kinh tế - xã hội 5 năm 1986 - 1990, dự kiến tổng sản phẩm xã hội và thu nhập quốc dân tăng bình quân 6 - 7% hàng năm, nhưng thực tế tổng sản phẩm xã hội chỉ tăng 4,5%, thu nhập quốc dân chỉ tăng 3,3%. Quan trọng hơn là chính sách động viên tài chính còn chưa hợp lý và khâu tổ chức, quản lý thu nộp cho ngân sách vẫn còn yếu.

Trong khu vực kinh tế quốc doanh, số tích luỹ về tài chính và kết quả nộp vào ngân sách vẫn là thấp chưa tương xứng với tiềm năng kinh tế và sự đầu tư về tài sản, tiền vốn của Nhà nước: một đồng vốn tính bình quân chỉ làm ra được 0,08 đồng tích luỹ và 0,04 đồng nộp ngân sách. Việc quản lý chi tiêu của nhiều xí nghiệp còn lãng phí, hạch toán kế toán lỏng lẻo, chấp hành kỷ luật thu nộp chưa nghiêm. Kết quả kiểm kê 0 giờ ngày 1/1/1990 cho thấy trong tổng số 12.000 xí nghiệp quốc doanh có 4.584 đơn vị làm ăn thua lỗ, có nguy cơ phải giải thể (tài liệu của Ban chỉ đạo kiểm kê trung ương).

Trong khu vực kinh tế ngoài quốc doanh, việc chỉ đạo thu thuế của ngành tài chính chưa năng động, việc hướng dẫn đôn đốc thu nộp chưa sát sao, sự quan tâm của một số cấp uỷ và chính quyền địa phương chưa đầy đủ: trong khu vực nông nghiệp vẫn có hiện tượng một số huyện, xã xâm tiêu tiền thuế, trong khu vực tiểu thủ công nghiệp và thương nghiệp dịch vụ, vẫn còn hiện tượng một số quận, phường vận dụng sai chính sách, thậm chí còn dặt ra một số khoản lệ phí thay cho thu thuế để chi tiêu ngoài ngân sách.


Thông cáo báo chí | Ý kiến phản hồi | Diễn đàn | Sơ đồ site | Liên hệ |Liên kết|

Giấy phép thiết lập Website trên INTERNET số 256/GP-BC ngày 24-08-2006.

Người chịu trách nhiệm: Thứ trưởng Vũ Thị Mai

Số 28 Trần Hưng Đạo - Quận Hoàn Kiếm - Hà Nội

Tel: (84-4) 2220.2828 • Fax: (84-4) 2220.8091 • Email: support@mof.gov.vn